ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI GIÁO TRÌNH LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ KINH DOANH Trình độ: Cao đẳng Nghề: Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ Mã môn học: MH 31 Chương 1 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ KINH TẾ 1. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ 1. Khái niệm kinh tế Kinh tế bao hàm nhiều nội dung nên cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế: - Kinh tế là tài sản quý hiếm. - Kinh tế là phúc lợi. - Kinh tế là tiết kiệm và hiệu quả. - Kinh tế đồng nghĩa với điều kiện sống, việc làm, thất nghiệp, mức độ tự do của con người. - Kinh tế là hoạt động sinh sống. Từ những cách hiểu nêu trên, có thể đưa ra kết luận như sau: Kinh tế là tổng thể (hoặc một bộ phận) các yếu tố sản xuất, các điều kiện vật chất của đời sống con người và các mối quan hệ vật chất giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định mà mấu chốt là vấn đề sở hữu và vấn đề lợi ích. Sơ đồ 1: Cấu trúc kinh tế Kinh tế Các quan hệ vật chất giữa con Các yếu tố sản xuất Các điều kiện vật chất của người với con người trong sản đời sống con người xuất và tái sản xuất xã hội 1. Các yếu tố sản xuất Đó là những đầu vào trực tiếp hoặc gián tiếp mà sản xuất xã hội cần được đáp ứng ở mỗi giai đoạn của sự phát triển xã hội, nó có thể được gộp thành bảy nhóm lớn: - Các nguồn tài nguyên, nhiên liệu; - Sức lao động của con người; - Công nghệ, trang thiết bị; - Các khoản vốn bằng tiền; - Thông tin phục vụ sản xuất; - Thiết chế quản lý vĩ mô xã hội; 2 - Kết cấu hạ tầng xã hội. Các điều kiện vật chất của đời sống con người Là tổng thể các yếu tố mà con người cần được đáp ứng để tồn tại, phát triển, phục vụ sản xuất xã hội và tái sinh sản giống nòi, bao gồm: - Công ăn việc làm và điều kiện làm việc - Tiền của; - Đất đai, nhà ở; - Kỹ năng lao động; - An ninh, an toàn xã; - Phương tiện đi lại, giao; - Phương tiện nuôi dưỡng gia đình. Các yếu tố sản xuất và các điều kiện vật chất của đời sống con người phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề sở hữu của con người trong xã hội; vì thế sở hữu là một trong những nội dung cốt lõi của kinh tế. Quan hệ vật chất giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội Các mối quan hệ vật chất giữa con người với nhau được diễn ra trên sáu lĩnh vực: - Trong sản xuất; - Trong lưu thông; - Trong phân phối, trao đổi; - Trong tiêu dùng và tích lũy; - Trong đối ngoại; - Trong môi trường sống. Vai trò của kinh tế 1. Kinh tế là nền tảng, là điều kiện của sự tồn tại và phát triển xã hội Con người muốn sống thì việc đầu tiên là phải ăn, uống để duy trì sự sống của mình, tiếp đó phải thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng khác (mặc, ở, bảo vệ an toàn, văn hóa, v. Chính nhờ hoạt động sản xuất của con người mà tất cả các nhu cầu nói trên của con người đều được đáp ứng. Để sản xuất, con người cần phải có đầy đủ các yếu tố cần thiết phục vụ những hoạt động này, đó chính là kinh tế. Kinh tế tồn tại với vai trò là các đầu vào của quá trình sản xuất xã hội và sau quá trình sản xuất, kinh tế lại là đầu ra của hoạt động sản xuất. 3 Sơ đồ 2: Kinh tế là nền tảng của sự tồn tại và phát triển xã hội Con người Kinh tế Cần phát triển Kinh tế Sản xuất 1. Kinh tế là mục tiêu của sự phát triển Kinh tế tạo tiền đề cho các mục tiêu phát triển của con người, của xã hội, trong đó có một vấn đề đặc biệt mà kinh tế đưa lại đó là quyền lực của hệ thống. Nhờ kinh tế, người ta có thể phát triển nhanh chóng sức mạnh của bạo lực chiến tranh ở một quốc gia hoặc sức mạnh của một tổ chức mang tính xã hội đen. Cũng chính nhờ kinh tế mà con người có điều kiện để nhanh chóng phát triển tư duy, trí tuệ, đặc biệt tạo ra sức mạnh to lớn về thông tin. Sơ đồ 3: Kinh tế là mục tiêu của sự phát triển (trang sau) Kinh tế Cơ sở hạ tầng Sức mạnh Sức mạnh Thông tin bạo lực trí tuệ 4 1. Quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị Xét trên phạm vi một quốc gia và giữa các quốc gia, quan hệ giữa kinh tế và chính trị thể hiện tập trung nhất ở mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội. Bên nào khống chế kinh tế thì bên đó có thể chi phối vấn đề về chính trị. Nhưng ngược lại, chính trị cũng có tác động trở lại với kinh tế, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế. Kinh tế có mối quan hệ biện chứng với văn hóa trong sự phát triển Văn hóa là một phức thể - tổng thể các đặc trưng - diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia, xã hội… bao gồm văn chương, nghệ thuật, lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng… Nhờ có văn hóa, kinh tế mới có cơ sở để phát triển và ngược lại, kinh tế phát triển sẽ giúp cho văn hóa phát triển hoặc phản phát triển. Sơ đồ 4: Quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong phát triển Hệ điều Phát triển Phản phát chỉnh triển Văn hóa Nền tảng Kinh tế Mục tiêu Phi văn hóa Động lực 1. Kinh tế là động lực của sự phát triển Kinh tế là động lực của sự phát triển của mọi quốc gia với hai khuynh hướng: Một là giành độc lập tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia nhỏ và yếu; hai là sự thôn tính, khống chế, chi phối của các quốc gia lớn, mạnh có đặc trưng phát triển phi văn hóa đối với các quốc gia nhỏ, yếu. 5 Sơ đồ 5: Kinh tế - động lực của sự phát triển Độc lập, giàu mạnh Phát triển Phát triển kinh tế Khống chế Đấu tranh và chi phối xung đột các nước khác giữa các quốc gia Ở phạm vi giữa các quốc gia, do muốn phát triển kinh tế để khống chế các nước khác mà các quốc gia lớn mạnh thường một mặt đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế trong nước, mặt khác lại tìm cách gây xung đột, chiến tranh ở khu vực hoặc quốc gia để các nước đó phải mua vũ khí của họ để tự bảo vệ sự sống còn của mình. Ở phạm vi doanh nghiệp, vì mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, các doanh nghiệp mạnh đều có chung một hoài bão trở thành tập đoàn lớn để khống chế thị trường. Vì thế họ phải tìm cách vận dụng thành tựu khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế đồng thời gắn kết với các thế lực và nhiều hoạt động khác để không ngừng bành trướng thế lực của mình. Kinh tế là cốt lõi của cơ sở hạ tầng xã hội Kinh tế quyết định chính trị và chính trị tác động trở lại kinh tế. Điều này thấy rõ ở các cường quốc có kinh tế phát triển luôn luôn sử dụng công cụ kinh tế (đi kèm bạo lực và thông tin) để khống chế các quốc gia yếu kém khác, buộc các quốc gia này phải lệ thuộc về kinh tế và sau đó là vấn đề chính trị. Sở hữu kinh tế 1. Sở hữu là một phạm trù kinh tế Sở hữu là một phạm trù kinh tế, biểu thị tổng thể các quan hệ kinh tế, xã hội và pháp lý của việc con người chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối tượng sở hữu (bao gồm các tư liệu sản xuất, tài sản, tiền vốn, nhân lực, thông tin, trí tuệ, v.) trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử. 6 Sơ đồ 6: Cấu trúc của khái niệm sở hữu Sở hữu Nội dung Quan hệ sở hữu sở hữu Đối Quyền Quyền Quyền Chủ thể tượng sở sử định sở hữu bị hữu dụng đoạt sở hữu Sở hữu bao gồm hai khía cạnh gắn bó hữu cơ với nhau là quan hệ sở hữu và nội dung sở hữu. Quan hệ sở hữu Là quan hệ vật chất giữa người với người đối với tài sản kinh tế, quan hệ sở hữu đó chỉ rõ tài sản thuộc về ai và được sử dụng, định đoạt như thế nào? Quan hệ sở hữu là quan hệ kinh tế, tồn tại khách quan biểu hiện cụ thể mối quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu của cải vật chất nói riêng, tư liệu sản xuất nói chung. Nó tồn tại trong mọi chế độ xã hội và gắn liền với quan hệ sản xuất, là một trong những hình thức biểu hiện chủ yếu của quan hệ sản xuất. Lịch sử phát triển xã hội loài người cho thấy, mỗi chế độ xã hội có một cách xử lý khác nhau về quan hệ sở hữu (gọi là chế độ sở hữu) nhất định, một phương thức chiếm hữu tư liệu sản xuất nhất định. Quan hệ sơ hữu thể hiện mối quan hệ giữa chủ sở hữu và đối tượng sở hữu. Chủ thể sở hữu là người sở hữu, chủ động của các quan hệ sở hữu, bao giờ cũng thể hiện thành những con người cụ thể. Còn đối tượng bị sở hữu là phía thụ động của các quan hệ sở hữu, dưới dạng vật chất tự nhiên, những đồ vật, năng lượng, thông tin, của cải, trí tuệ… thuộc về chủ thể một phần hoặc hoàn toàn. Nội dung sở hữu Là bản chất của khái niệm sở hữu, nội dung sở hữu chỉ rõ các quyền sở hữu mà chủ thể sở hữu có được đối với đối tượng bị sở hữu mà luật pháp cho phép. Nội dung sở hữu bao gồm các quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. 7 - Quyền chiếm hữu là quyền giữ lấy đối tượng bị sở hữu (tài sản) về mình. Đây là quyền đầu tiên cần phải có của chủ sở hữu, nó thể hiện ở sự chi phối của chủ sở hữu đối với tài sản, được cụ thể ở các quyền thừa kế, thế chấp, chuyển đổi… Quyền chiếm hữu có tính chất tĩnh, nó là quyền về danh nghĩa mà không phải là sự thực hiện cụ thể, về thực chất. Người sở hữu có thể có quyền chiếm hữu nhưng không thực hiện nó.