Chương 1: Khái quát chung uê Nông nghiệp uà Nông thôn. Chương 9: Dịnh hướng phái triển Nông nghiệp uà Nông thôn. Chương 3: Những uấn đề chủ yếu của Quản lý nhà nước uê Nông nghiệp va kinh tế nông thôn. Chuong 4: Quan ly nha nude vé quy hoach xéy dựng các điểm dân cư nông thôn.
Chương 5: Quan ly nhà nước uê xây dựng kết cấu ha tầng ở Nông thôn. Để biên soạn tập bời giảng này các tác giả căn cứ uào đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng uè Nhà nước uề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Định hướng phát triển nông nghiệp uà nông thôn Việt Nam thời gian tới, tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học uê nông nghiệp, xây dựng khu dân cư nông thôn trong uà ngoài nước, các bài giảng Quản lý nhà nước uê nông nghiệp uà nông thôn cho các đối tượng thuộc Học uiện Hành chính Quốc gia, các giáo trình quản lý xây dựng uà phát triển nông nghiệp nông thôn của một số trường đại học chuyên ngành trong nước uà các tài liệu uê quản lý nông nghiệp, nông thôn của một số nước trên thế giới. Do được biên soạn lần đâu nên cuốn sách khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế.
Rất mong nhận được sự góp + của người học uà bạn đọc. Hà Nội, 2004 Bộ môn Quản lý Nhà nước về Đô thị và Nông thôn Chuong 1 KHAI QUAT CHUNG VE NONG NGHIEP VA PHAT TRIEN NONG THON I. VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Xét về mặt lịch sử phát triển, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành đầu tiên của xã hội loài người. Nông nghiệp luôn luôn là một ngành kinh tế có vai trò và vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Vai trò quan trọng của nông nghiệp (kể cả lâm, ngư nghiệp) thể hiện ở sự đóng góp to lớn, toàn diện vào việc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước, đó là: - Cung cấp lương thực, thực phẩm cũng như nguyên liệu gia dụng khác cho đời sống của con người; - Cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp và nhất là công nghiệp chế biến, sản xuất đồ dùng gia dụng; - Xuất khẩu hàng hóa nông sản thu ngoại tệ, tạo tích lũy ban đầu đầu tư trở lại cho phát triển kinh tế — xã hội; - Là thị trường tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp — địch vụ, là ngành cung cấp đáng kể việc làm (trực tiếp và gián tiếp), nhất là những nước có tiểm năng phát triển nông - lâm - ngư nghiệp; - Phòng chống ngăn ngừa thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, cải tạo vi khí hậu, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái; ng nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển đời sống kinh tế của nông dân được đảm bảo sẽ góp phần ổn định chính trị - xã hội, an ninh trật tự được giữ vững, thúc đẩy xây dựng nông thôn mới, từng bước đô thị hóa nông thôn. Sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng) được thực hiện chủ yếu bởi người nông dân trên địa bàn nông thôn. Nông nghiệp là bộ phận cấu thành chủ yếu của kinh tế nông thôn, có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống kinh tế - xã hội của nông dân, nên giải quyết những vấn đề nông nghiệp cũng là giải quyết những vấn để liên quan mật thiết đến nông dân, nông thôn. Như vậy, nông nghiệp không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn để chính trị trong mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp, giữa nông dân với công nhân và trí thức, giữa nông thôn và thành thị.
Ở nước ta hiện nay, nông nghiệp có vai trò ngày càng lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên của đất nước và xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nói chung. Tăng trưởng trong nông nghiệp thường đi đôi với mức tăng trưởng gần như tương tự trong các ngành phi nông nghiệp. Bởi lẽ, nếu áp dụng tốt những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại vào nông nghiệp thì năng suất nông nghiệp có thể tăng với nhịp độ không kém nhiều các khu vực kinh tế khác và tác dụng của nó lại lan rộng khắp nơi. Khi nông dân ngày càng mua nhiều hàng tiêu dùng nội địa nhiều hơn, cũng như có nhụ cấu lớn hơn về hàng hóa va dịch vu để hỗ trợ cho sản xuất ngày càng tăng thì sản xuất phi nông nghiệp tại thành phố cùng như ở nông thôn sẽ phát triển theo.
Sự tăng trưởng của các ngành phi nông nghiệp tại nông thôn sẽ tạo công an việc làm cho người dân, và như vậy không cần phải hạn chế việc đi cư mà tốc độ di dân vào thanh phố cũng sẽ giảm một cách tự nhiên, các thành phố sẽ giảm tải về dân số và dỡ phức tạp về các vấn để kinh tế - chính trị - xã hội - môi trường. Sản lượng nông nghiệp ngày càng tăng sẽ đảm bảo việc cung cấp lương thực, thực phẩm theo nhu cầu của người dân và góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời hỗ trợ sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. dịch vụ và nhất là công nghiệp chế biến nông sản. Nhu vậy, tăng trưởng trong nông nghiệp sẽ đưa đến tăng trưởng chung của nông thôn và thành thị, hỗ trợ việc én định xã hội do các cơ hội làm ăn được phân bố một cách hợp lý, đồng đều và nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm được bảo đảm.
Các điểm dân cư nôn thôn (làng, bản, ấp, trại) là bộ phận quan trọng cấu thành đời sống xã hội của đất nước nhất là Việt nam, tạo môi trường hình thành phát triển và thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư nông thôn, không những đáp ứng các yêu cầu sản xuất, kinh doanh dịch vụ, mà còn đáp ứng các nhu cầu vật chất, văn hóa, tỉnh thần của người nông dân và sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Nông thôn là địa bàn chiến lược trong các cuộc kháng chiến cứu quốc. Trước đây, khi công nghiệp và đô thị chưa phát triển thì nông nghiệp và khu dân cư nông thôn giữ vị trí bao trùm. Khi có sự gia tăng của công nghiệp hóa và đô thị hóa.
nông thôn đã dần thu hẹp lại kể cả về dân số và không gian lãnh thổ. Song về lâu dài, các làng, bản, ấp trại vẫn tổn tại là một địa bàn cư trú của con người trong thời đại văn minh hơn, tiến gần các đô thị hơn. Để quá trình đô thị hóa nông thôn diễn ra thuận lợi theo định hướng, cần phải tiến hành quy hoạch nông nghiệp - nông thôn. Quy hoạch xây dựng và phát triển các khu dân cư nông thôn nhằm tạo lập các cơ sở vật chất và kỹ thuật thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động sản xuất cũng như tổ chức cuộc sống của người dân lao động trên địa bàn nông thôn.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, công tác quy hoạch và quản lý xây dựng các khu dân cư nông thôn được nghiên cứu và triển khai trên cơ sở của một nền kinh tế tập trung kém phát triển với cách thức tổ chức sản xuất theo hợp tác xã, theo tập đoàn với quy mô lớn nên quy hoạch cũng tản mạn, bất hợp lý. Khi chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phân vận động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (KHCN) thi cdc phương thức tổ chức hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ rất đa dạng; tổ chức cuộc sống trong xã hội nông thôn cũng xuất hiện nhiều yếu tố mới, do đó, công tác quy hoạch, phát triển và quản lý các khu dân cư nông thôn cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế phát triển kinh tế - xã hội trong hiện tại và xây dựng cuộc sống mới của xã hội nông thôn nước ta trong tương lai. Có như thế, chúng ta mới có thể đẩy mạnh và nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nông thôn, phát triển kinh tế - xã hội-toàn diện; nâng cao đời sống vật chất, 10 văn hóa tỉnh th n eda ca din néng thon, gop phan thu hẹp khoảng cách giả nghèo trong xã hội. Các đô thị lớn ở nước ta.
đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chi Minh đang đứng trước những áp lực lớn về gia tăng dân số và lao động từ bên ngoài vào - nhất là từ nông thôn (do khoảng cách về điều kiện sống và lao động giữa các đô thị lớn và vùng ngoại thành còn quá xa). Áp lực về dân số sẽ kéo theo sự tập trung của sản xuất công nghiệp, dịch vụ, phương tiện giao thông.và gây nên tình trạng quá tải, xuống cấp của kết cấu hạ tẳng, gia tăng ô nhiễm môi trường. phức tạp về an ninh trật tự mà chúng ta sẽ phải tốn kém nhiều tiền của để cải tạo và phát triển ổn định mới có thể được nhu cầu toàn diện ở các đô thị này. Để giải quyết triệt để mâu thuẫn trên chỉ có thể đẩy mạnh quá trình đô thị hóa nông thôn, tăng cường phát triển về lượng và chất các đô thị vừa và nhỏ, các điểm dân cư nông thôn theo kiểu đô thị mới.
Làm như vậy có thể vừa hạn chế hoặc kiểm soát được sự di dân vào các đô thị lớn, vừa cải tạo, nâng cấp các khu đô thị hiện có, giúp cho sự phát triển hài hòa ổn định và bền vững trên cả phạm vi nền kinh tế nói chung và trong các đô thị, nhất là các đô thị lớn nói riêng. ĐẶC THÙ CỦA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Do tính chất sản xuất và hoạt động kinh tế - xã hội chỉ phối mà nông nghiệp, nông thôn có những nét đặc thù cần được chú ý trong quản lý nhà nước về nông nghiệp, nông thôn. - Nông nghiệp là ngành kinh tế chịu sự tác động và chỉ phôi mạnh của các quy luật tự nhiên và các điểu kiện tự 11 nhiên nhu: dat dai, khi hau, thoi tiét, sinh vat.nén hoat động quản lý nhà nước và hoạt động quan lý sản xuất kinh doanh cần phải nắm vững các đặc thù và tôn trọng các quy luật trong đó có quy luật sinh học, bởi những đối tượng sản xuất chủ yếu là sinh vật.