CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CỎ DẠI MH 32-01 Giới thiệu: Nội dung chương trình bày định nghĩa, lịch sử và tác hại của cỏ dại, các loại cỏ dại gây hại trên lúa, cây công nghiệp ngắn ngày và vườn cây ăn trái. Mục tiêu: Kiến thức: trình bày được tác hại của cỏ dại trong sản xuất nông nghiệp, các loại cỏ dại gây hại cây trồng. Kỹ năng: nhận biết chính xác các loại cỏ dại gây hại cây trồng Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có phẩm chất đạo đức tốt và nhận thức đúng đắn về môn học, có thái độ hợp tác với bạn bè, tôn trọng pháp luật và các quy định của nhà trường; có ý thức trách nhiệm trong học tập, có phương pháp làm việc khoa học, sáng tạo và luôn cập nhật thông tin. Định nghĩa cỏ dại Cỏ dại là loài thực vật mọc hoang có khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh, có tính chống chịu cao với điều kiện khắc nghiệt của khí hậu và thổ nhưỡng, thường mọc tự nhiên trên đồng ruộng,vườn tược, ven đường, bãi đất hoang… Giữa cỏ dại và cây trồng có mối quan hệ tương hỗ, chúng có thể chuyển hóa cho nhau trong điều kiện nhất định.
Cỏ dại nếu được chọn lọc, chăm bón theo một quy trình nào đó sẽ thành cây trồng có ích, chẳng hạn các loài cỏ giàu dinh dưỡng như cỏ mật, cỏ gừng, cỏ gà, cỏ chỉ… khi được trồng, cấy, bón phân ở các nông trường, đồng cỏ sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt, dùng làm thức ăn cho gia súc nhai lại thì chúng là cây trồng. Lịch sử của khoa học cỏ dại Trước năm 1970, biện pháp quản lý cỏ dại chủ yếu là làm bằng tay, sử dụng cuốc, gia súc hay tủ xác bã thực vật, đến những năm 1800 khái niệm về biện pháp ngăn ngừa cỏ dại xuất hiện, năm 1897 đến năm 1900 dung dịch diệt cỏ lá rộng có chọn lọc ra đời. Đến những năm 1930 hoá chất diệt cỏ không chọn lọc (copper sulfate, sulfuric acid, …. Năm 1932 xuất hiện thuốc trừ cỏ hữu cơ tổng hợp chọn lọc đầu tiên dinitrophenol.
Năm 1941-1942 tổng hợp 2,4-D, kích thích tăng trưởng ra đời. Năm 1944 thuốc diệt cỏ chọn lọc của 2,4-D được thương mại hóa. Từ đó, hàng 1 loạt những hợp chất có khả năng trừ cỏ khác cũng được tổng hợp và thương mại hóa như monuron (1949), triazines (1955). Tác hại của cỏ dại 3.
Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, chất dinh dưỡng với cây trồng a. Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng Ánh sáng quyết định đến 95% năng suất của cây, sự cạnh tranh ánh sáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất của cây. Số hạt cỏ nằm trong đất rất nhiều, số hạt cỏ sắp nảy mầm cũng lớn hơn nhiều so với số hạt cây trồng được gieo. Hạt cỏ dại nhỏ hơn, yêu cầu các điều kiện nảy mầm như nước và ôxy cũng ít hơn nên thường mọc trước và nhanh hơn.
Cỏ dại có chiều cao, số lá, diện tích lá thường lớn hơn cây trồng ở thời kỳ đầu nên thường cạnh tranh ánh sáng với cây trồng làm cho cây trồng sinh trưởng chậm. Những cây trồng cao hơn cỏ dại sẽ mọc vượt lên và không bị cỏ dại tranh cướp ánh sáng ở thời kỳ cuối; những cây trồng có chiều cao tối đa thấp hơn cỏ dại thì bị tranh cướp ánh sáng trong suốt thời kỳ sinh trưởng. Vì vậy, việc trừ cỏ cho cây trồng lúc còn non, loại trừ khả năng tranh cướp ánh sáng của cỏ dại có tác dụng nâng cao năng suất các loại cây trồng rõ rệt. Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng Cỏ dại dù sinh trưởng nhanh hay chậm, dù cường độ hút nước và dinh dưỡng cao hay thấp, dù số lượng nhiều hay ít nhưng khi có mặt trên đồng ruộng thì chúng đều hấp thu một số lượng đáng kể nước và muối khoáng trong đất, làm cây trồng thiếu nước và dinh dưỡng, sinh trưởng chậm, năng suất thấp.
Việc cỏ dại tranh cướp ánh sáng của cây trồng chỉ xảy ra ở thời kỳ đầu và chấm dứt khi cây trồng đã mọc cao hơn cỏ dại, còn việc tranh cướp nước, dinh dưỡng thì xảy ra suốt thời kỳ sinh trưởng đối với tất cả các loại cây trồng. Hầu hết các loại cỏ dại đều là những cây sinh trưởng rất nhanh nên tranh cướp rất nhiều nước và muối khoáng với cây trồng. Theo Klingman (1961), so với cây bắp thì ở trong các loài cỏ có hàm lượng đạm gấp 2 lần, hàm lượng lân gấp 1,6 lần, hàm lượng kali gấp 3,5 lần, hàm lượng canxi gấp 7,6 lần và magiê gấp 3,3 lần. Qua đó cho thấy, tỷ lệ phần trăm các chất dinh dưỡng quan trọng trong cây cỏ không phải thấp hơn so với cây trồng mà cao hơn so với cây trồng.
Do đó, cỏ dại sẽ tranh cướp càng nhiều chất dinh dưỡng quan trọng nếu mật độ của chúng lớn, khối lượng sinh trưởng trong một đơn vị diện tích cao.Vì vậy, nông dân có thể tận dụng một số cỏ dại hoặc trồng để làm thức ăn gia súc. Theo Arai Masao (1966), theo dõi về lượng đạm hút được của lúa và cỏ dại cho thấy: nếu trên ruộng lúa có những cỏ thấp cây như cây vảy ốc thì lượng đạm 2 do lúa hấp thu được chỉ bằng 70% so với lúa không có cỏ. Nếu trên ruộng lúa có những cỏ cao cây như: cỏ lồng vực, cỏ lác thì lúa chỉ hấp thu được lượng đạm bằng một nửa so với ruộng lúa sạch cỏ. Một số loài cỏ dại sống ký sinh trên cây trồng như: tơ hồng, tầm gửi ký sinh trên cây ăn trái: cam, quýt, nhãn,… chẳng những hút nước, muối khoáng mà cả những chất hữu cơ nữa.
Cỏ dại tiết ra chất độc có hại cho cây trồng Bộ rễ cỏ dại trong quá trình sinh sống có thể tiết ra những chất gây hại cho cây trồng. Theo Guyol-L và Bec-kery (1951), khi tưới hạt lúa mì, hạt cải bằng nước của rễ hoặc nước chiết ở đất có rễ của các cây dại như: cỏ thi (Achillea millefolium L.), cây mỹ nhân (Pa-paver rhoeas L.), cây tử kinh (Lepidium draba L.) và một số cây khác thì hạt cây trồng sẽ nảy mầm kém. Cỏ dại là ký chủ của một số loài sâu bệnh Cỏ dại còn là ký chủ của các loại sâu bệnh hại cây trồng. Trước hết, các cây cỏ dại cùng họ, bộ hay có đặc tính giống cây trồng làm ký chủ cho những nguồn sâu bệnh hại những cây trồng tương ứng.
Một vài loài cỏ dại thuộc họ bìm bìm mọc hoang là ký chủ cho sùng khoai lang gây hại trên cây khoai lang, cỏ lồng vực là ký chủ của sâu xám. Bọ xít đen hại lúa thường đẻ trứng trên cỏ lồng vực. Không chỉ làm ký chủ, cỏ dại còn tạo điều kiện sinh thái thích hợp cho sâu bệnh sinh trưởng và phát triển. Ruộng có nhiều cỏ dại thì nhiệt độ và ẩm độ đều tăng tạo điều kiện cho sâu bệnh sinh sản dễ dàng hơn.
Mặt khác, cỏ dại mọc nhiều và phát triển tốt sẽ tranh cướp ánh sáng, nước, dinh dưỡng của cây trồng làm cho cây trồng sinh trưởng kém, tính đề kháng sâu bệnh giảm đi, tác hại của sâu, bệnh càng lớn. Cỏ dại làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng Cây trồng bị cỏ dại lấn áp, tranh cướp ánh sáng, nước, chất dinh dưỡng thường sinh trưởng kém và cho năng suất thấp. Tùy theo từng điều kiện cụ thể mà cỏ dại làm cho năng suất cây trồng giảm nhiều hay ít. Trong cùng ruộng cây trồng, các loài cỏ dại khác nhau ảnh hưởng đến năng suất cây trồng khác nhau.
Ở ruộng lúa, cỏ lồng vực thường cao cây hơn lúa nên ảnh hưởng đến năng suất lúa nhiều hơn cỏ lác và rong rêu. Các loại cỏ dại gây hại cây trồng 4. Cỏ dại gây hại cây lúa Muốn phòng trừ cỏ tốt, có hiệu quả, không những chỉ nắm thành phần cỏ, thời kỳ xuất hiện mà còn phải hiểu được đặc điểm của chúng. Trên cơ sở những đặc điểm đó có thể lựa chọn những phương pháp trừ cỏ hiệu quả nhất.
Cỏ lồng vực nước Cỏ lồng vực nước là loại cỏ hại lúa phổ biến trên thế giới, hầu hết các nước trồng lúa đều gặp loại cỏ này. Về hình thái chúng rất giống lúa có thể mọc, sinh trưởng, phát triển ở mọi loại đất trồng lúa. Loại này thường ra hoa kết hạt trước lúa; hạt chín sớm, rụng xuống đất và giữ sức nảy mầm trong thời gian dài. Hạt cỏ lồng vực ít bị phá hại trong điều kiện tự nhiên vì xung quanh hạt được bao bọc một lớp vỏ bằng sừng vững chắc không thấm nước và không khí.
Hạt muốn nảy mầm cần có điều kiện thuận lợi, thường hạt nảy mầm tốt trong điều kiện đất ẩm (độ ẩm đất 80-90%). Đất khô (độ ẩm dưới 70%) hạt nảy mầm cũng giảm, khi ngập nước từ 10-15 cm hạt vẫn mọc mầm được khoảng 10-15%. Điều này giải thích tại sao trong ruộng mạ, ruộng gieo vãi hoặc ruộng lúa cấy cạn nước, chỉ giữ ẩm đất, thì cỏ lồng vực mọc rất nhiều, khi ngập nước vẫn có một số cây cỏ lồng vực nhất định. Cỏ lồng vực có khả năng đẻ nhánh, những nhánh này cũng cho bông.
Một số cây sau này có thể cho hàng chục bông tùy điều kiện dinh dưỡng và các điều kiện sống khác nhau. Khi bông chính chín, hạt rụng đi, các mầm nách lại tiếp tục phát triển thành bông mới. Chính vì vậy, khả năng sinh sản của cỏ lồng vực khá lớn. Khả năng kết hạt của cỏ lồng vực cũng khá cao.
Một bông cỏ lồng vực có thể có 200-500 hạt, các hạt này lại dễ rụng xuống đất để duy trì nòi giống, chúng có thể kết hạt ngay cả khi gặp điều kiện sống không thuận lợi như khô hạn, nhiệt độ cao hoặc thấp. Trong điều kiện nước ta, kết quả nghiên cứu, điều tra cỏ lồng vực hại lúa, có thể phân chia thành hai loại và mỗi loại lại chia thành hai loại khác nhau như sau (Bảng 1.1): - Lồng vực trắng: chính là lồng vực nước, rất giống lúa, lá nhỏ, mọc xiên, màu xanh vàng, bẹ thẳng, xanh vàng. Đẻ nhánh gọn, chịu ngập nước khỏe. Có khả năng chống chịu với một số thuốc trừ cỏ.
+ Lồng vực trắng, hạt có râu dài + Lồng vực trắng, hạt có râu ngắn hoặc không râu. Hạt to, được bao bọc bởi một lớp vỏ không kéo dài thành râu, hoặc có râu ngắn. - Lồng vực tía: có thể có nguồn gốc từ cỏ lồng vực cạn nhưng sống lâu dài dưới đất ngập nước nên trở thành lồng vực nước hại lúa. Lá xanh thẫm, to, xòe mềm mại, gân chính trắng, 2 mép lá có màu tía.
Bẹ lá to, dưới gốc có màu tía, thân to màu hơi tía. Đẻ nhánh nhiều, bụi xòe không gọn, trổ bông không tập trung.