Mở đầu + nguồn từ cuộc sống, nó thức tỉnh và phát triển tâm hồn con người. Văn học là một loại hình nghệ thuật, là một. bộ phận hoạt động tỉnh thần cơ bản làm nên sự phong phú của nhân cách, đặc biệt làm nảy sinh tư tưởng, tình cảm, trí tưởng tượng, niềm tin và hành động nhân đạo của con người trong môi. trường xã và tự nhiên.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, là nguồn suối quan trọng của trị thức, kinh nghiệm sống của nhân loại mà con người cần tiếp thu. và phát triển. Văn học có chức năng xã hội, thẩm mĩ to lớn, cho nên tác phẩm văn học được đưa vào chương trình giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phổ thông. Với tư cách là một lĩnh vực văn hoa, làm quen với văn học được coi là một môn học trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ em.
Tổ chức hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học là một nhiệm vụ quan trọng ở trường mầm non. Đó là sự dẫn đắt mở cửa cho con người ngay từ những bước chập chững đầu tiên đi vào thế giới của các giá trị phong phú. chứa đựng trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Sự tiếp xúc thường xuyên với tác phẩm văn học được chọn lọc eẽ phát triển ở trẻ ngôn ngữ, sự nhạy cảm thẩm mĩ, năng lực cảm thụ văn học, những tố chất ban đầu của năng khiếu nghệ thuật.
Tiếp xúc với tác phẩm văn học, trẻ học tiếng mẹ đẻ: học cách phát âm đúng, tích luỹ vốn từ ngữ nghệ thuật, học những mẫu. su Hoàn hao, San REE Se en eee jae trân trọng tiếng nói dân tộc, hứng thú bước vào hoạt động văn học nghệ thuật. Văn học còn góp phần phát triển trí tuệ, tình cảm đạo đức, làm phong phú đời sống tỉnh thần cho trẻ. Những ấn tượng đẹp đẽ về những hình tượng nghệ chuat trong tác phẩm sẽ thúc đẩy ham muốn sáng tạo nghệ thuật của trẻ.
Những bài thơ, những câu chuyện kể, tranh vẽ chính là sự thể hiện thế giới bên trong, là nhu cầu tự thể hiện mình của trẻ. Để làm cho quá trình này phát triển có phương hướng, mục đích, người làm công. tác giáo dục, dạy học cần phải nắm được rrhững quy luật làm cơ sở cho quá trình đó. Và chính hệ phương pháp tổ chức hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học đã khám phá ra những quy luật ấy.
Ua dha aati [2180/42 tint CHUONG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG |= KHOA HỌC VỀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC 1. Sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với ngành Giáo dục Mầm non Ngay từ những ngày đầu khi Oách mạng tháng 8 thành công và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nhà nước dân. chủ nhân dân đã coi trọng việc chống giặc đốt bên cạnh giặc đói, giặc ngoại xâm, đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục thiếu niên nhì đồng, giành cho tuổi thơ một sự quan tâm đúng mức. Chỉ 8 ngày sau khi ra Tuyên ngôn độc lập, nhà nước đã ban hành chủ trương mở các lớp ấu trĩ viên, Nhà bảo anh, Dục anh.
Liên tiếp vào những ngày 10 — 13/12/1945 ; 14, 16, 16/2/1946 ; 25/7/1946, Hội đồng cố vấn học chính của Bộ Quốc gia Giáo dục mở những cuộc họp nghiên cứu các nguyên tắc tổ chức, mở lớp huấn luyện giáo viên mẫu giáo, cử các cán bộ phụ trách. Ngày 02/01/1949, Bộ Quốc gia Giáo dục đã tổ chức Hội nghị mẫu giáo toàn quốc nhằm định ra đường lối phát triển ngành. Ngày 9/11/1949, Hội nghị đã xác định rõ mục đích, phương. châm, phương pháp giáo dục mẫu giáo.
Mục đích ấy là “uyên tập cho cde em mai sau tzở nên người công dân của nước dân chủ dục khoa học “cách dạy ở mẫu giáo hết sức linh hoạt, hoạt bát, chơi. mà học, hợp uới lứa tuổi từ3 ~ 4” (Sơ thảo 40 năm xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục mầm non, 1991, nhiều tác giả, viện Nghiên cứu trẻ em). Hai trích dẫn ngắn trên đủ cho ta hình dung được bước đi chập chững ban đầu của ngành mẫu giáo, tuy chưa có cơ sở khoa. học cụ thể nhưng đã thể hiện được chủ trương tốt đẹp của Nhà nước muốn các cháu trở thành người công dân tương lai của cl độ mới.
Về phương pháp giáo dục, ngành học này còn gặp nhiều lúng túng, đó là việc để xuất phương pháp trong khi chưa xác định được nội dung giáo dục thì chỉ có thể dừng lại ở quan niệm chung chung là “cách day ở mẫu giáo hết sức linh hoạt, hoạt bát”: Ngày 4Í1I1950, Ban Mẫu giáo trung ương được thành lập với nhiệm vụ “Nghiên cứu phương pháp, đặt chương trành, hế. hoạch dạy trẻ từ 3~7 tuổi." 'Từ quan niệm trẻ em lứa tuổi mẫu giáo hoàn toàn như một tờ giấy trắng, người lớn có thể uẽ gì lên ấy là tuỳ, mọi chủ trương, về mục đích, phương châm, phương pháp đều xuất phát từ quan. điểm giáo dục chủ quan, chưa thấy rõ những tiềm năng của trẻ. Người ta xem lứa tuổi này chỉ là giai đoạn chuẩn bị làm người hoặc “sửa soạn cho chúng biết đọc biết uiết, để cho chúng được lên học lớp trên được linh lợi".
Suốt những năm tháng đó, Bộ Giáo dục đã tiến hành mở các khoá đào tạo, lớp bổi dưỡng những người làm công tác mẫu giáo ¡ mở trường, lớp mẫu giáo ở khắp các tỉnh thành. phong trào mẫu giáo phát triển nhanh chóng. Giai đoạn ấu trĩ của ngành Mẫu giáo nhanh chóng đi qua. Bộ Giáo dục đã sớm phát hiện ra sự bất hợp lí khi ngành Mẫu giáo vẫn đứng ngoài hệ thống giáo dục nhà trường, ngày 19/1/1966, 'Vụ Mẫu giáo đã được thành lập và tập trung sức triển khai, tổ chức biên soạn tài liệu bỏi dung giáo viên mẫu giáo, hướng dẫn thực hiện cáo môn học và tổ chức hoạt động phù hợp với giai đoạn mới, _ Sau nim 1966, Vụ Mẫu giáo ra đồi, chịu trách nhiệm trước (Sika dAna wach VS hash suà:ahimơ.
trình hiên oan tài lIỆU. môn học và tổ chức đào tạo giáo viên theo hệ thống nhà trường dân chủ nhân dân. Lúc này, ngành Mẫu giáo mới có những bước tiến đồng bộ và có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, tính chất chủ quan áp đặt vẫn còn biểu hiện nặng nể.
Người ta mới lo cho cô giáo và công ệc của cô giáo chứ chưa thực sự coi trọng trẻ em. Lo dạy mà chưa lo việc học của các cháu. Còn phương pháp dạy thì tuỳ theo cô giáo mà “linh hoạt”, “linh động”. Từ sau 1975, ngành học mẫu giáo đã có sự chỉ đạo thống nhất trong cả nước, phong trào mẫu giáo trong cả nước phát triển nhanh, tương đối đều, phong.
trào thi đua được đẩy mạnh. Công cuộc cải cách giáo dục đồi hỏi ngành giáo dục mẫu giáo phải có những cải tiến trong nội dung, phương pháp giáo dục. Một bộ phận cán bộ Vụ Mẫu giáo được giao nhiệm vụ “nghiên cứu những uấn để uêgiáo dục mẫu giớo trong cải cách giáo dục". Và ngày 21/01/1978, chương trình cải tiến ra đời đánh dấu một bước quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mẫu giáo không tách rồi với công tác nghiên cứu khoa học.
Ngày 10/02/1978, Ban Nghiên cứu cải cách mẫu giáo được. thành lập đã tiến hành nghiên cứu về trẻ em và xây dựng mục tiêu kế hoạch chương trình mẫu giáo cải cách. Chương trình đã quán triệt nghị quyết về cải cách giáo dục của Bộ Chính trị ngày 11/1/1979 : “Giáo dục mâm non là một bộ phận rất quan trong trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ ngay từ thời bì thơ ấu, nhằm. tạo ra cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người mới, người lao.
động làm chủ tập thể, phát triển toàn diện”. Gần đây, các nhà giáo dục mẫu giáo cũng đang có rất nhiều ahiing nghiên cứu, đổi mới nội dung, chương trình và phương. ¬háp tổ chức giáo dục trẻ ở trường mầm non. Một trong những.
-tổi mới có tính chất thời sự cếp thiết, đó là vấn để giáo dục trẻ =m theo hướng tích hợp theo chủ điểm, chủ để với những hình mhức tổ chức và phương pháp thích hợp, quán triệt quan điểm =iáo dục hiện đại lấy trẻ em: iằm trưng tâm. Boi nét nêu trên để thấy được những bước đì, lịch sử phát và Nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục nước nhị tự nghiệp trồng người nói chung và gido dục mầm non nói riêng. Xây dựng chương trình, quan niệm của các nhà giáo dục về Văn học đành cho trẻ em Chương trình một ngành học phải dược xây dựng trên lí thuyết về chương trình để đảm bảo sự cân đối giữa giáo dục và đào tạo. Một chương trình thuộc lĩnh vực sư phạm bao giờ cũng có một hệ thống các khái niệm, xác định mối quan hệ giữa dạy và học, giữa giáo dưỡng và giáo dục.
Những khái niệm khoa học của ngành Mẫu giáo cần dược làm rõ đó là khái niệm “hoc” va khái niệm "chơi", dó cũng là tiêu chuẩn và mục đích, nội dung, phương pháp và nguyên tắc thực hiện chương trình. Nhìn vào chương trình, người ta có thể biết được sự tiến bộ và chất lượng của ngành học ấy. Tu nam 1963, ngành học Mẫu giáo đã có chương trình thử nghiệm. Năm học 1966, Bộ Giáo dục ban hành chương trình tỉnh giản có nội dung môn học như ; Trò chơi, thể dục, hát múa, thơ ca, chuyện kể,.
Để đáp ứng những yêu cầu bức thiết của tình. hình mới, ngày 21/01/1978, Bộ Giáo dục chính thức ban hành “Chương trình giáo dục mẫu giáo”, còn gọi là chương trình cải tiến, áp dụng trên phạm vi cả nước. Lần này, Bộ Giáo dục, Vụ Mẫu giáo chủ trương đi sâu cải tiến chương trình và phương pháp các môn học. Bước tiến rõ rệt trong nhận thức của ngành là phải có nội dung đào tạo, giáo dục trễ dựa trên những trị thức của các môn học tự nhiên, xã hội, nghệ thuật.
Môn “Chuyện va :: Tho’, dude dua vào chương trình với mục đích “nhadm phát triển ngôn ngữ, bao gồm uiệc làm giàu uốn từ, tộp cho trẻ phát âm chính xáo, diễn đạt rõ rùng có ngữ điệu, đúng ngữ pháp, tao điều °iện cho trẻ có khả năng sử .dụng ngôn ngữ để giao tiếp va hee tập uới chức năng giáo dục bằng phương tiện uăn học. Chuyệ! ud thơ giúp cho trẻ làm quen dẫn uới ý hay lời đẹp, hình tượng tron sảng, tập cho trẻ tiếp xúc uới lác phẩm uăn học, từng ước xẤy ` nh cảm đạo đức uà tình cảm thẩm mũ. góp phần làm phong hú hiểu biết của trẻ uà phát triển các năng lực trí tuệ" (Chương. ình giáo dục Mẫu giáo, Nhà xuất bản Giáo dục, 1978).