Chương 1: Khai quát chung của phân tích hoạt động kinh doanh Chương 2: Phân tích môi trường kinh doanh, thị trường và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chương 3: Phân tích tình hình sử dụng các yếu tổ sản xuất của doanh nghiệp Chương 4: Phân tích chỉ phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm. Chương 5: Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Chương 6: Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Ch_ong1: Khái quát chung của phản tích hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh: 1.1 Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh “Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng trong.
mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó” “Phan tích hoạt động kinh doanh (PTKD) là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cẩn khai thác ở doanh nghiệp (DN), trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN”" “Trước đây, trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản và với quy mô nhỏ, yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích thường được tiền hành giản đơn, có thể thấy ngay trong công tác hạch toán. Khi sản xuất kinh doanh càng phát triển thì nhu cầu thông tin cho nhà quản trị càng nhiều, đa dạng và phức tạp. PTKD hình thành và phát triển như một môn khoa học độc lập, để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị. Phân tích như là một hoạt động thực tiễn, vì nó luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho việc ra quyết định.
PTKD như là một ngành khoa học, nó nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh để tử đó để xuất những giải pháp hữu hiệu cho mỗi DN. Như vậy, PTKD là quá trình nhận biết bản chất và sự tác động của các mặt của hoạt động kinh doanh, là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng DN và phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao.2 Đối t- ong của phân tích Với tư cách là một khoa học đ lập, PTKD có đồi tượng riêng: “Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ánh hưởng đến quá trình và kết quả đó, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế” Kết quả kinh doanh mà ta nghiên cứu có thể là kết quả của từng giai đoạn biệt như kết quả mua hàng, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng. hay có thể là kết quả tổng hợp của quá trình kinh doanh, kết quả tai chinh.v 'Khi phân tích kết quả kinh doanh, người ta hướng vào kết quả thực hiện các định hướng mục tiêu kế hoạch, phương án đặt ra. Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh tế.
Chỉ tiêu là sự xác định về nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh. Nội dung chủ yếu của phân tích kết quả là phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà DN đã đạt được trong kỳ, như doanh thu bán hàng, giá trị sản xuất, giá thành, lợi nhuận.Tuy nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh chúng ta phải luôn luôn đặt trong mối quan hệ với các điều kiện (yếu tố) của quá trình kinh doanh như lao động, vật từ, tiễn vốn, diện tích đất đai. Ngược lại, chỉ tiêu chất lượng phản ánh lên hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như giá thành, tỷ suất chỉ phí, doanh lợi, năng suất lao động. Dựa vào mục đích phân tích mà chúng ta cần sử dụng các loại chỉ tiêu khác nhau, cụ thê: Chỉ tiêu số tuyệt đối, chỉ tiêu số tương đối, chỉ tiêu bình quân.
Chỉ tiêu số tuyệt đối dùng để đánh giá quy mô kết quả kinh doanh hay điều kiện kinh doanh. Chỉ tiêu số tương đối dùng trong phân tích các mỗi quan hệ giữa các bộ phận, các quan hệ kết cấu, quan hệ tỷ lệ và xu hướng phát triển. Chỉ tiêu bình quân phản ánh trình độ phổ biển của các hiện tượng. TTuỳ mục đích, nội dung và đối tượng phân tích để có thể sử dụng các chỉ tiêu hiện vật, giá trị, hay chỉ tiêu thời gian.
Ngày nay, trong kinh tế thị trường các DN. thường dùng chỉ tiêu giá trị. Tuy nhiên, các DN sản xuất, DN chuyên kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có quy mô lớn vẫn sử dụng kết hợp chỉ tiêu hiện vật bên cạnh. chỉ tiêu giá trị.
Trong phân tích cũng cần phân biệt chỉ tiêu và trị số chỉ tiêu. Chỉ tiêu có nội dung kinh tế tương đối ôn định, còn trị số chỉ tiêu luôn luôn thay đổi theo thời gian và địa điểm cụ thé. Phân tích kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh thông các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đó. Một cách chung nhất, nhân tổ là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, quá trình.và mỗi biến động của nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp ở một mức độ và xu hưởng xác định đến các kết quả biểu hiện các chỉ tiêu.
'Ví dụ: Doanh thu bán hàng phụ thuộc vào lượng bán hàng ra, giá cả bán ra và cơi cấu tiêu thụ. Đến lượt mình, khối lượng hàng hoá bán ra, giá cả hàng hoá bán ra, kết cấu hàng hoá bán ra lại chịu tác động thiều yếu tố khác nhau như khách quan, chủ. quan, bên trong, bên ngoài. Theo mức độ tác động của các nhân tố, chúng ta có thễ phân loại các nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng thành nhiễu loại khác nhau, trên các góc độ khác nhau.
~ Trước hết theo tính tất yếu của các nhân tổ: có thể phân thành 2 loại: Nhân tổ khách quan và nhân tố chủ quan. Nhân tổ khách quan là loại nhân tố thường phát sinh và tác động như một yêu cầu tất yếu nó không phụ thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Kết quả hoạt động của mỗi DN có thể chịu tác động bởi các nguyên nhân và nhân tố khách quan như sự phất triển của lực lượng sản xuất xã hội, luật pháp, các chế độ chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, môi trường. vị trí kinh tế xã hội.
về tiến bộ khoa học kỹ. thuật và ứng dụng. Các nhân tố này làm cho giá ca hàng hoá, giá cả chỉ phí, giá cả dịch vụ thay đổi, thuế suất, lãi suất, ty suất tiễn lương.cũng thay đổi theo. Nhân tố chủ quan là nhân tổ tác động đến đối tượng nghiên cứu phụ thuộc vào.
nỗ lực chủ quan của chủ thể tiến hành kinh doanh. Những nhân tổ như: trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, trình độ khai thác các nhân tố khách quan của DN làm ảnh hưởng đến giá thành, mức chỉ phí thời gian lao động, lượng hàng hoá, cơ cấu hàng hoá. ~ Theo tính chất của các nhân tố có thê chia ra thành nhóm nhân tố số lượng và nhóm các nhân tổ chất lượng. Nhân tổ số lượng phản ánh quy mô kinh doanh như: Số lượng lao động, vật tư, lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ.
Ngược lại, nhân tố chất lượng thường phản ánh hiệu suất kinh doanh như: Giá thành, tỷ suất chỉ phí, năng suất lao động. kết quả kinh doanh theo các nhân tố số lượng và chất lượng vừa giúp ích cho việc đánh giá chất lượng, phương hướng kinh doanh, vừa giúp cho việc xác định trình tự. sắp xếp và thay thể các nhân tố khi tính toán mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến. kết quả kinh doanh.
~ Theo xu hướng tác động của nhân tố, thường người ta chia ra các nhóm nhân tổ tích cực và nhóm nhân tổ tiêu cực. Nhân tổ tích cực là những nhân tố tác động tốt hay lảm tăng độ lớn của hiệu quả kinh doanh và ngược lại nhân tổ tiêu cực tác động xấu hay làm giảm quy mô của kết quả kinh doanh. Trong phân tích cần xác định xu hướng và mức độ ảnh hướng tổng. hợp của các nhân tổ tích cực và tiêu cực.
Nhân tổ có nhiều loại như đã nêu ở trên, nhưng nếu quy về nội dung kinh tế thì có hai loại: Nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh và nhân tố thuộc vẻ kết quả kinh. Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh như: Số lượng lao động, lượng. hang hoá, vật tư, tiền vốn.ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô kinh doanh. Các nhân tố thuộc về kết quả kinh doanh ảnh hưởng suốt quá trình kinh doanh từ khâu cung ứng vật tư đến việc tổ chức quá trình sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm và từ đó.
ảnh hưởng đến kết quả tổng hợp của kinh doanh như nhân tố giá cả hàng hoá, chi phi, khối lượng hàng hoá sản xuất và tiêu thụ. "Như vậy, tính phức tạp và da dạng của nội dung phân tích được biểu hiện qua hệ thống các chỉ u kinh tế đánh giá kết quả kinh doanh. Việc xây dựng tương đối hoàn chỉnh hệ thống các chỉ tiêu với cách phân biệt hệ thống chỉ tiêu khác nhau, việc phân loại các nhân tố ảnh hưởng theo các góc độ khác nhau không những giúp cho DN. đánh giá một cách đẩy đủ kết quả kinh doanh, sự nỗ lực của bản thân DN, mà còn tìm ra được nguyên nhân, các mặt mạnh, mặt yếu đề có biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.3 Nhiệm vụ của phân tích kỉnh tế: Nhiệm vụ của phân tích kinh tế đ- ge quy định bởi đối t-ợng và nội dung nghiên cứu của môn học và đ- c cụ thể hoá thành 3 nhiệm vụ chủ yếu sau đây: ~ Đánh giá chính xác, cụ thể các kết quả kinh tế, quá trình và kết quả của việc thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, đồng thời đánh giá việc thực hiện chính sách, chế độ thể lệ về kinh tế, tài chính mà Nhà n- ớc đã ban hành.