CHƯƠNG 1: VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, ĐỐI TƯỢNGVÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN KẾ TOÁN Mã chương: MH10-01 Thời gian: 06 giờ (LT: 02; TH: 0; Tự học: 04) Giới thiệu: Chương đầu tiên trong giáo trình nguyên lý kế toán giúp chúng ta hiểu được những khái niệm cơ bản về kế toán và nắm được những nguyên tắc, nhiệm vụ, phương pháp,. các vấn đề cơ bản nhất về ngành kế toán. Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ và yêu cầu của kế toán. - Xác định được đối tượng của hạch toán kế toán.
- Phân loại được toàn bộ tài sản của đơn vị kế toán. - Thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ được giao, tuân thủ đúng quy định của Luật kế toán. Nội dung chính: 1. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hạch toán kế toán 1.
Hạch toán kế toán và tính tất yếu khách quan của hạch toán kế toán 1. Tính tất yếu khách quan của hạch toán kế toán Hạch toán lúc đầu chỉ đơn thuần là công cụ được con người sử dụng để quản lý tài sản làm ra trong các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và sự bấp bên của cuộc sống. Càng về sau, theo đà phát triển của nền kinh tế xã hội cùng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật, hạch toán cũng ngày càng phát triển đa dạng và phong phú cả về nội dung lẫn hình thức. Trong đó có một loại hạch toán được xem là phương tiện không thể thiếu được với sự tồn tại và phát triển của tất cả các chủ thể trong một nền kinh tế như: hộ gia đình, tổ chức tài chính trung gian, tổ chức tài chính quốc tế, ngân sách Nhà nước và đặc biệt là các doanh nghiệp, đó chính là Hạch toán kế toán.
Hạch toán kế toán thực sự xuất hiện và có dấu hiệu phát triển từ khi có sự hình thành chữ viết và số học sơ cấp mà trước hết là sự phát minh ra hệ đếm thập phân và việc sử dụng rộng rãi chữ số Ả rập đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của hạch toán kế toán. Khoảng 2000 năm trước công nguyên người dân Babylonienne đã biết những khái niệm sơ khởi về kế toán như việc ghi chép về trao đổi hàng hoá, cho vay và thiếu nợ.hoặc như ở Ai cập cổ đại người ta đã tìm thấy các loại giấy dùng để ghi chép sự tăng giảm tài sản, ta gọi là giấy papirus, còn ở La mã cổ đại thì lại tìm thấy các bảng nhỏ bằng sáp dùng để ghi chép tính toán. Qua phân tích so sánh giữa các di vật với các tài liệu kế toán hiện nay, ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm của các vật dùng để ghi chép đó lần lượt ảnh hưởng đến các loại sổ sách, chứng từ ngày nay. Vào những năm của thập niên cuối thế kỷ XV (1491 - 1495), một nhà toán học người Ý có tên là Fra Luca Pacioli đã viết nên cuốn sách trình bày các nguyên tắc căn bản về một phương pháp ghi chép các quan hệ kinh tế phát sinh, gọi là ghi kép.
Trong thời kỳ nguyên thủy, sản xuất tự cung tự cấp thì hạch toán đã xuất hiện nhưng chưa phải là hạch toán kế toán, việc hạch toán chỉ được thực hiện một cách đơn giản như đánh dấu lên thân cây hay buộc nút dây. Trong thời kỳ này hạch toán chỉ là hạch toán bằng hiện vật và được sử dụng phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội. Sang thời kỳ chiếm hữu nô lệ, ý nghĩa của hạch toán đã thay đổi, hạch toán được sử dụng trước hết để theo dõi nô lệ và đất đai, ngoài ra hạch toán còn được sử dụng để theo dõi việc đổi chác tiền, lúc bấy giờ không chỉ hạch toán bằng hiện vật mà 19 còn hạch toán bằng tiền - sau này gọi là hạch toán kế toán. Cũng trong thời kỳ này sổ kế toán đã xuất hiện.
Đến thời kỳ phong kiến, sự phát triển của nông nghiệp đã làm xuất hiện địa tô phong kiến và chế độ cho vay nặng lãi của địa chủ đối với nông dân. Chính những bước phát triển này đã làm cho hệ thống sổ sách hạch toán kế toán càng phong phú, chi tiết hơn và hoàn thiện hơn. Sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc hơn, dẫn đến quan hệ trao đổi mua bán phát triển mạnh, đồng thời quá trình dịch chuyển tư bản ngày càng gia tăng và càng làm mở rộng hơn các mối quan hệ kinh tế mới. Sự xuất hiện các quan hệ kinh tế này chính là tiền đề cho khoa học hạch toán kế toán phát triển ở mức độ cao hơn một cách nhanh chóng vượt bậc.
Đặc trưng tiêu biểu của thời kỳ này đó chính là sự ra đời của hệ thống kế toán kép và sự xuất hiện của hệ thống tài khoản kế toán. Trong chế độ xã hội Xã hội chủ nghĩa, hạch toán kế toán càng trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho các thành viên trong quản lý kinh tế xã hội. Đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, hạch toán kế toán đã dần chuyển sang hệ thống xử lý tự động hoá và không ngừng phát triển cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Có thể kết luận rằng: Hạch toán kế toán là một khoa học kinh tế ra đời và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội và phục vụ trực tiếp cho nền sản xuất xã hội.
Khái niệm và bản chất của hạch toán kế toán * Khái niệm Hạch toán kế toán là một môn khoa học phản ánh và giám đốc các mặt hoạt động kinh tế - tài chính ở tất cả các đơn vị, các tổ chức kinh tế xã hội. Hạch toán kế toán có đối tượng cụ thể là các hoạt động kinh tế, tài chính: sự biến động về tài sản, nguồn vốn, sự chu chuyển của tiền,. Để có thể phản ánh các đối tượng này, hạch toán kế toán sử dụng cả 3 loại thước đo nói trên nhưng chủ yếu và bắt buộc phải sử dụng thước đo giá trị. Theo Luật kế toán Việt Nam 2003: Kế toán là viêc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kin tế tài chính dưới hình thức giá trị hiện vật và thời gian lao động.
Hạch toán kế toán sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu đặc thù: phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán. * Bản chất của hạch toán kế toán - Kế toán là khoa học và nghệ thuật về việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị hiện vật và thời gian lao động. - Có thể nhận thấy để theo dõi và đo lường kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, cung cấp thông tin tài chính cần thiết cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin, kế toán thực hiện một quá trình gồm có 3 hoạt động: thu thập, xử lý và cung cấp thông tin. Vai trò của hạch toán kế toán - Kế toán phục vụ cho các nhà quản lý kinh tế: dựa vào thông tin kế toán, các nhà quản lý định ra các kế hoạch, dự án và kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch, các dự án đặt ra.
20 - Kế toán phục vụ các nhà đầu tư: căn cứ vào thông tin kế toán, các nhà đầu tư nắm được hiệu quả của một thời kỳ kinh doanh và thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Từ đó, đề ra các quyết định đầu tư hợp lý; kiểm tra, kiểm soát được tình hình sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp. - Kế toán phục vụ Nhà nước: qua kiểm tra, tổng hợp số liệu kế toán, Nhà nước nắm được tình hình chi phí, lợi nhuận của cac đơn vị, từ đó đề ra các chính sách về đầu tư, thuế vụ, hoạch định chính sách, soạn thảo luật lệ thích hợp. Chức năng và nhiệm vụ của hạch toán kế toán 1.
Chức năng - Chức năng phản ánh (hay còn gọi là chức năng thông tin) Chức năng phản ánh được biểu hiện ở việc kế toán theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị thông qua việc tính toán, ghi chép, phân loại, xử lý và tổng kết các dữ liệu liên quan đến hoạt động sử dụng vốn và tài sản của đơn vị. - Chức năng giám đốc (Chức năng kiểm tra) Chức năng giám đốc thể hiện ở việc thông qua số liệu đã được phản ánh, kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị làm cơ sở cho việc đánh giá đúng đắn và kiểm soát chặt chẽ tình hình chấp hành luật pháp của các đơn vị trong công tác quản lý kế toán - tài chính. Chức năng này nhằm giúp cho hoạt động của đơn vị ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Mối liên hệ giữa các chức năng: Chức năng phản ánh là đối tượng của chức năng giám đốc, chức năng giám đốc là công cụ đôn đốc chức năng phản ánh được chính xác, rõ ràng và đầy đủ hơn.
Nhiệm vụ Theo điều 5 Luật kế toán, nhiệm vụ của kế toán như sau: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán. - Kiểm tra giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán. - Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. - Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
Phân loại hạch toán kế toán 1. Căn cứ vào đối tượng sử dụng thông tin của kế toán Với vai trò là cung cấp thông tin kinh tế tài chính và đặc điểm của thông tin là cung cấp cho các đối tượng khác nhau, do đó kế toán ngày nay được phân biệt thành kế toán tài chính và kế toán quản trị. Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có điểm giống và khác nhau: * Giống nhau: - Cả hai đều nằm trong hệ thống thông tin kế toán. Trong đó kế toán quản trị sử dụng số liệu ghi chép ban đầu của kế toán tài chính.