mở đầu, kết thúc giữa các bộ phận liên quan hữu cơ với nhau. Nó dựng lên một cảnh sống (hay nét sinh hoạt), có nhân vật, không có kịch. Nó tựa như một bức tranh tuyên truyền (Apphích) lớn. Vi dụ: Cảnh múa “Hội mùa”.
Trường CÐ Văn hoá Nghệ thuật tuân đội. inh: Phạm Mạnh Kiên + Kịch múa: Là thể loại lớn nhất, gồm tất cả năm thể loại trên cộng lại, cùng với kịch câm (Pantomime) nó là đỉnh cao của nghệ thuật múa. Ví dụ: Tếm Cám, Hồ thiên nga, Rômôô va Juyliet v. | Mua CON RONG CHAU TIEN Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam.
12 Ảnh: Phan Hữu Đỗ 'Tóm lại, nghệ thuật múa chia làm hai loại chính là: Múa sinh hoạt: Bao giờ, ð đâu hay trong hoàn cảnh nào múa sinh hoạt cũng đều phục vụ những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày trong nhân. dân, nặng về vui chơi giải trí. Múa sinh hoạt là nguồn bồi đắp cho múa sân khấu. Múa sân khéu (hay múa chuyên nghit oại này được chia thành nhiều thể loại nhỏ, mỗi thể loại có một vị trí riêng.
Giá trị nghệ thuật. không căn cứ ở tác phẩm dài hay ngắn, lớn hay bé mà căn cứ ở hiệu quả. cuối cùng khi tác động tới sự thưởng thức của người xem. (ich múa NGỌN LỬA.
a Tho mua BAI CA NGUOI CONG SAN. Đoàn ca múa Quân đội Trường CÐ VHNT Quân đội Ảnh: Hoàng Nam Ảnh: Phạm Mạnh Kiên Sơ đồ phân loạ |_ Cuộc sống Múa sinh hoạt Múa sân khẩu _' Vui Tôn ma ri Thơ [78 Cảnh MG chơi giáo nguyên thuỷ | in tiết || múa khúc múa {[——Keh múa 13 1. Đôi nét về nguồn gốc của múa 1. Sơ lược về nguồn gốc * Múa bắt nguồn từ bản năng có tính chất sinh vat học Một số nhà mĩ học cho rằng, con người ta múa theo bản năng du hí, mỗi khi trong lòng vui sướng thì nhảy nhót, khoa chân múa tay.
Họ cho ring bản chất nguồn gốc phát sinh nghệ thuật múa là từ những hiện tượng sinh vật học thuần tuý, thậm chí là hiện tượng “dng con” cia động vật, sự hấp dẫn bởi khác giống như gà trống, công đực khoe sắc giương mào, vẫy cánh quanh gà mái, công cái v. 6 con người cũng có những biểu hiện bộc lộ nét tâm lí trước đối tượng khác giới, song những biểu hiện đó cũng không thể là nguồn gốc của múa. Giải thích như vậy tức là phủ định con người, cơi con người cũng như loài vật, không có tư tưởng, lí trí. Đó là một quan điểm không đúng đắn.
* Múa bắt nguôn từ tình yêu Có người cho rằng tình yêu là nguồn gốc của nghệ thuật múa. Khi yêu nhau người ta có cảm giác ít nói hơn nhưng vẫn hiểu nhau thông qua cử chỉ, điệu bộ. Trong quá trình yêu, con người có sự giao lưu bằng hành vi, cử chỉ. Thực tế, có nhiều điệu múa nói về quan hệ nam nữ thanh niên, về tình yêu đôi lứa.
Song, rõ ràng không phải tất cả hoạt động của nghệ thuật múa chỉ có vậy mà ngược lại, múa còn để cập tới nhiều vấn đề khác của cuộc sống. * Múa bắt nguồn từ tôn giáo Trong nghỉ thức tế lễ hoặc cúng bái từ xưa tới nay, ở nhiều nước thường dùng múa hát. Ổ nước ta có múa trong các nghỉ thức tôn giáo như lên đồng, chạy đàn, múa Dặm (Hà Nam), múa Rô (Hà Tây) và Xuân Phả (Thanh Hoá). Song không vì thế mà cho rằng nghệ thuật múa phát sinh từ đó.
Ở đây người ta múa chỉ để biểu lộ lòng thành kính đối với thần thánh, để cầu xin phù hộ cho công việc của họ có kết quả. Trên thực tế, múa còn xuất hiện trước cả việc sùng bái vật tổ (Tô - Tem) và chủ nghĩa thần linh. Và ngay từ lác đó, múa đã phẩn ánh nhiều mặt của cuộc sống. lao động và sinh hoạt của con người.
14 * Lao động là nguôn gốc của nghệ thuật múa + Múa ra đời rất sớm, ngay trong xã hội nguyên thuỷ, từ khi con người chưa có tiếng nói hay tiếng nói chưa phát triển. Múa đã được sinh ra trong quá trình lao động, nó gắn chặt với đời sống lao động sản xuất. Sau một ngày lao động mệt nhọc và đạt được thành quả tốt đẹp, người nguyên thuỷ thấy cần phải vận động thân. thể cho thoải mái, đồng thời truyền đạt tình cảm của mình cho người khác nên họ đã nhảy múa.
Lúc đầu rất thô sơ, đơn giản: dậm chân theo nhịp gõ, nhịp vỗ tay hay tiếng hú có nhịp điệu (một số bộ tộc ở châu Phi đến nay vẫn còn hình thức múa sơ khai này). Trải qua quá trình lao động, họ rút được kinh nghiệm, muốn truyền đạt lại cho nhau nhưng lúc đó ngôn ngữ chưa đủ để diễn đạt, họ phải dùng động tác chân tay mô tả lại như làm mẫu. Dan dan, những động tác đó có nhịp điệu, có hình tượng mẫu mực và trở thành múa thực sự. Ngày hay, nhiều dân tộc trên thế giới (chẳng hạn ở Việt Nam có dân tộc Lô Lô) còn những điệu múa mô tả lại quá trình lao động từ lúc gieo hạt đến khi thu hoạch.
Đó cũng là một cách truyền thụ kinh nghiệm. cho nhau xưa kia. Trong khi tập họp đi săn bắt hay chiến đấu với bộ lạc khác, người ta cũng nhảy múa. Nhảy múa lúc đó có tính chất cổ vũ hay thao diễn cho tất cả mọi người.
Sau khi săn được thú chiến thắng trở về, người ta lại nhầy múa để biểu lộ niềm phấn khỏi hay mô tả lại cho nhau. những sự việc xảy ra vừa qua để rút kinh nghiệm. Quá trình hình thành và phát triển của loài người cho thấy lao động sáng tạo ra con người, mà nghệ thuật múa lại do con người sáng tạo ra. Như vậy, thông qua lao động sản xuất, con người tạo ra những sản.
phẩm về vật chất và tỉnh thần. Múa là sản phẩm tỉnh thần của con người. Vậy, chúng ta có thể đi đến kết luận: “Thực tiễn lao động của con người là nguồn gốc của nghệ thuật nói chung và cũng chính là nguồn gốc của múa nói riêng”. Những yếu tố tác động đến sự hình thành đặc điểm múa của mỗi dân tộc Các dân tộc khác nhau có nền nghệ thuật khác nhau, vì trong, quá xã trình hình thành, mỗi dân tộc chịu sự chỉ phối của những điều kiện hội và tự nhiên khác nhau.
15 * Diéu kien xa ho - Cơ sở sản xuất của xã hội có tác động rất lớn đến đặc điểm nghệ thuật múa. Nghệ thuật múa tái tạo cuộc sống lao động. Do vậy, nền sản xuất phát triển hay lạc hậu đều được phản ánh vào trong múa. - Khi cơ sở sẵn xuất chủ yếu là nông nghiệp thì các động tác múa.
là các động tác lao động nông nghiệp. Khi công nghiệp phát triển, bắt đầu xuất hiện những động tác luyện gang thép, khai thác than, xây dựng. ộ chính trị xã hội khác nhau tạo ra nghệ thuật múa khác nhau. a Mua HÁI QUÁ - Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam.
Ảnh: Phạm Mạnh Kiên. - Mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng như: Dân tộc Thái, Tày có phong tục chơi ném còn mùa xuân nên có múa xoè; hoặc lễ nghỉ tôn giáo riêng như múa lên đồng của người Kinh. Không phải dân tộc nào cũng có múa trống và quy định người sử dụng trống. Đa số các dân tộc có múa trống đều do nam sử dụng.
Dân tộc Kinh cũng vậy, song gần đây tập quán đã thay đổi nên nữ cũng dùng trống làm đạo cụ múa. - Các dân tộc có lí tưởng thẩm mĩ và tâm lí riêng của mình. Những cô gái Việt Nam tính tình kín đáo, dịu dàng e lệ nên múa cũng uyển chuyển, thướt tha, duyên dáng tế nhị. Quan niệm về cái đẹp cũng khác nhau nên ta thấy múa của dân tộc Kinh đẹp một cách mềm mại, chau chuốt, khác múa của các dân tộc ở Tây Nguyên, 16 đẹp là phải nhiin nhay, nay, bat va có những cái rung vai, rung người rất tế nhị.
'Tuy nhiên, giữa các dân tộc có sự giao lưu về các mặt, nhất là về văn hoá nên cũng chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Những nét tỉnh hoa của dân tộc này qua nhiều luồng giao lưu đến với dân tộc kia và ngược lại. Hiện nay, ở Việt Nam có Ba-lê vì có nhiều người đi học môn này ở nước ngoài về, do các đoàn nghệ thuật các nước sang biểu diễn. Nó đang dân được Việt Nam hoá.
* Điều kiện tự nhiên: - Đất đai và địa lí cư trú: Các dân tộc ở trên những vùng đất va dia hình khác nhau của trái đất nên những yếu tố này có tác động rõ rệt vào đặc điểm múa của các dân tộc. Vi du: Dân tộc H'Mông sống trên vùng cao núi đá tai mèo, mặt bằng chật hẹp nên động tác múa đơn lẻ, kĩ thuật cá nhân cao; khoảng. không gian múa không cần rộng, kĩ xảo không phải là những động tác dài rộng (có nghệ nhân biểu diễn tài năng trên gốc cây đã chặt hoặc ba cái cọc đóng chum lai. - Yếu tố khí hậu cũng góp phần giải thích tại sao múa của châu Âu mạnh mẽ, múa của châu Á mềm mại, nhẹ nhàng.
Đó là vì các dân tộc châu Âu ở vùng khí hậu lạnh, còn đa số các dân tộc ở châu Á thuộc vùng khí hậu nhiệt đới. - Tuy nhiên, có hiện tượng múa không phải do yếu tố khí hậu tác động. Các dân tộc châu Phi cũng ở vùng nhiệt đối nhưng múa rất sôi nổi, mạnh mẽ, khác hẳn múa của Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc. Đó là do chủng tộc khác nhau (thuộc điều kiện xã hội).
Đặc điểm múa của một dân tộc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song chủ yếu do những yếu tố thuộc điều kiện xã hội quyết định. Chẳng hạn, trong một dân tộc, các điều kiện tự nhiên hầu như thống nhất, không thay đổi, nhưng khi chế độ xã hội hoặc cơ sở sản xuất trong những thời kì khác nhau thay đổi đã tạo ra những đặc điểm múa trong từng giai đoạn khác nhau. Sự phát triển của nghệ thuật múa ở miền Nam nước ta trước và sau giải phóng đã chứng mình điều đó. Căn cứ vào cơ sở trên, người ta chia quá trình phát triển của nghệ “TT TT thuật múa ra theo các giai đoạn sa YhƯỜNG C0S f Máu HAD TM? 4 | TEs VEEN 17 0.
Sơ lược về quá trình phát triển * Thời kì xã hội chưa có giai cấ1 Đó là loại múa nguyên thuỷ. Đặc điểm múa trong giai đoạn này có tính chất sơ khai, ý nghĩa thực dụng của nó khá rõ nét. Thời kì này chủ yếu là múa sinh hoạt, rất gắn bó với sinh hoạt và lao động của con người.