đặt vấn đề về niềm tin, mà là chỉ phủ nhận khả năng vô hạn của nhận thức. Thuật ngữ “bất khả tri” (Agnosticism) được đưa ra năm 1869 bởi Thomas Henry Huxley (1825-1895), nhà triết học tự nhiên người Anh, người đã khái quát thực chất của lập trường này từ các tư tưởng triết học của D. Đại biểu điển hình cho những nhà triết học bất khả tri cũng chính là Hume và Kant. Ít nhiều liên quan đến thuyết bất khả tri là sự ra đời của trào lưu hoài nghi luận từ triết học Hy Lạp Cổ đại.
Những người theo trào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan. Tuy cực đoan về mặt nhận thức, nhưng Hoài nghi luận thời Phục hưng đã giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng và quyền uy của Giáo hội Trung cổ. Hoài nghi luận thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo. Quan niệm bất khả tri đã có trong triết học ngay từ Epicurus (341-270 TCN) khi ông đưa ra những luận thuyết chống lại quan niệm đương thời về chân lý tuyệt đối.
Nhưng phải đến Kant, bất khả tri mới trở thành học thuyết triết học có ảnh hưởng sâu rộng đến triết học, khoa học và thần học châu Âu. Trước Kant, Hume quan niệm tri thức con người chỉ dừng ở trình độ kinh nghiệm. Chân lý phải phù hợp với kinh nghiệm. Hume phủ nhận những sự trừu tượng hóa vượt quá kinh nghiệm, dù là những khái quát có giá trị.
Nguyên tắc kinh nghiệm (Principle of Experience) của Hume thực ra có ý nghĩa đáng kể cho sự xuất hiện của các khoa học thực nghiệm. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa kinh ngiệm đến mức phủ nhận các thực tại siêu nhiên, đã khiến Hume rơi vào bất khả tri. Mặc dù quan điểm bất khả tri của Kant không phủ nhận các thực tại siêu nhiên như Hume, nhưng với thuyết về Vật tự nó (Ding an sich), Kant đã tuyệt đối hóa sự bí ẩn của đối tượng được nhận thức. Kant cho rằng con người không thể có được những tri thức đúng đắn, chân thực, bản chất về những thực tại nằm ngoài kinh nghiệm khả giác (Verstand).
Việc khẳng định về sự bất lực của trí tuệ trước thế giới thực tại đã làm nên quan điểm bất khả tri vô cùng độc đáo của Kant. Trong lịch sử triết học, thuyết Bất khả tri và quan niệm Vật tự nó của Kant đã bị Feuerbach và Hegel phê phán gay gắt. Trên quan điểm duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen tiếp tục phê phán Kant, khi khẳng định khả năng nhận thức vô tận của con người.Ăngghen, con người có thể nhận thức được và nhận thức được một cách đúng đắn bản chất của mọi sự vật và hiện tượng. Không có một ranh giới nào của Vật tự nó mà nhận thức của con người không thể vượt qua được.
Ông viết: “Nếu chúng ta có thể minh chứng được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách 13 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Kant nữa”15. Những người theo Khả tri luận tin tưởng rằng, nhận thức là một quá trình không ngừng đi sâu khám phá bản chất sự vật. Với quá trình đó, Vật tự nó sẽ buộc phải biến thành “Vật cho ta”.
KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC 1. Lịch sử triết học phương Đông 1. Triết học Ấn Độ Cổ đại Triết học Ấn Độ trải dài suốt từ thời Cổ đại cho đến ngày nay, nhưng thời Cổ đại là thời kỳ mà triết học Ấn Độ phát triển mạnh mẽ nếu không muốn nói là mạnh mẽ nhất với những nhà tư tưởng, những trường phái nổi tiếng. Cơ sở hình thành triết học Ấn Độ Cổ đại Điều kiện kinh tế - xã hội Từ thế kỷ XV TCN đến thế kỷ III TCN, Ấn Độ chuyển từ chế độ cộng sản nguyên thủy sang chiếm hữu nô lệ, đặc biệt mạnh mẽ vào thế kỷ VII-III TCN.
Trong thời gian này do ảnh hưởng sâu đậm của phương thức sản xuất châu Á, nên nhìn chung Ấn Độ không có chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất. Điểm đặc trưng về kinh tế - xã hội của Ấn Độ khi đó là công xã nông thôn với ngành nghề chính là nông nghiệp bên cạnh thủ công nghiệp là dệt vải kéo sợi, tổ chức sản xuất theo lối gia đình tự cấp, tự túc. Công xã nông thôn tồn tại một cách biệt lập, thụ động, khép kín, từ đó, theo C.Mác, làm hạn chế lý trí của con người và biến con người trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín. Cùng với điều đó, Ấn Độ còn là một tiểu lục địa khép kín, gần như ngăn cách hoàn toàn với châu Á.
Phải chăng hoàn cảnh đó đã được phản ánh vào trong triết học với tư tưởng vận động vòng tròn khép kín của các trường phái triết học, học thuyết tính không của nhà Phật? Xã hội Ấn Độ cổ được phân làm bốn đẳng cấp: Balamon (Tu sĩ), Kshatrya (quí tộc), Vainshya (dân tự do), Shudra (nô lệ). Sự phân chia đẳng cấp, theo luật Manou, là vô cùng khắt khe. Cuộc đời con người được phân làm bốn giai đoạn: thời thơ ấu, đi tu, trở lại lập gia đình sinh con đẻ cái, đi tu. Chính điều này đã làm cho tôn giáo ở Ấn Độ cổ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội.
Bối cảnh văn hóa, tư tưởng Khoảng 3000-1500 tr. CN, Ấn Độ có nền văn minh Indus, văn minh đồng thau của người Dravidian. Khoảng 1500-500 tr. CN - Ấn Độ có nền văn minh Ganga mà chủ nhân là người Aryan tràn từ Tây Bắc vào Ấn Độ khoảng 2000 15 C.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.
14 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến năm trước công nguyên. Khoảng 1500 trước công nguyên họ sáng tác các bộ Veda - Kinh đầu tiên ở Ấn Độ. Những tư tưởng triết học của Veda được tập trung trong Upanishad - khởi nguồn của triết học Ấn Độ.
Ấn Độ có hai bộ sử thi nổi tiếng là Mahabharata (107.000 khổ thơ) và Ramayana (24.000 khổ thơ), phản ánh cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc, giữa cư dân nông nghiệp và những người du mục săn bắn hái lượm. Ấn Độ là quốc gia đa ngôn ngữ, nhưng hiện nay tiếng Hindi là ngôn ngữ chính thống. Thời Ấn Độ cổ đã có nhiều trường đại học như Nalanda (Phật học), Ujjair (Thiên văn), Ajanta (Nghệ thuật),…Về khoa học, đã phát hiện ra hệ thập phân và số không; còn về tôn giáo thì ít nơi trên thế giới có sự phát triển mạnh như ở Ấn Độ cổ.Mác, Ấn Độ là chiếc nôi của các ngôn ngữ và tôn giáo nhân loại, còn lịch sử của nó có dạng (mang hình thức) lịch sử của những tôn giáo. Các trường phái triết học Ấn Độ Veda (~ 1500 Tr.CN) Upanishad ( ~ 800-600 TCN) Chính thống Không chính thống Trực tiếp Gián tiếp Vedanta Mimansa; Sankhya Yoga Vaisesika Nyaya Lokayata Jaina Buddha Qua sơ đồ ta thấy mọi hệ thống triết học Ấn Độ đều bắt nguồn từ Upanishad.
Nhưng từ sau Upanishad, triết học Ấn Độ được phân làm hai nhánh lớn: chính thống và không chính thống; với ba tiêu chí để phân biệt là: - Có thừa nhận Vêda hay không; - Có thừa nhận chế độ đẳng cấp (varna) hay không; - Có thừa nhận vị thần tối cao Brahma sáng tạo ra vũ trụ, vạn vật hay không. 15 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện. Không phổ biến Nếu thừa nhận thì là chính thống; ngược lại, không thừa nhận là không chính thống. Qua đây, ta thấy, chính thống có sáu trường phái, bao gồm Vedanta, Mimansa, Sankhya, Yoga, Vaisesika, Nyaya; không chính thống có ba trường phái: Lokayata, Jaina, Buddha.
Như vậy, Phật giáo (Buddha) lại thuộc dòng không chính thống ở Ấn Độ. Trong các trường phái chính thống lại phân thành hai nhánh: trực tiếp (cho Vêda đúng từng câu, từng chữ, gồm hai trường phái là Vedanta và Mimansa); gián tiếp (chỉ lấy tinh thần của Vêda, gồm bốn trường phái là Sankhya, Yoga, Vaisesika, Nyaya) Tư tưởng của mỗi trường phái cũng cực kỳ phức tạp, theo Scherbátxki, Samkhya đại diện cho khuynh hướng duy lý; Yoga đại diện cho khuynh hướng thần bí; Vaisesika, Nyaya là hệ thống duy thực; Mimansa gần với tôn giáo; Vedanta là hệ thống phiếm thầm luận cuối cùng của Ấn Độ. Trong những trường phái này thì Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng, văn hóa, triết học Việt Nam. Samkhya sau này thừa nhận có hai thực thể đầu tiên, tồn tại độc lập; đó là Prakriti (vật chất đầu tiên, bản thể, nguyên lý, nguyên nhân khởi thuỷ của thế giới khách quan; nằm trong sự biến đổi không ngừng, được cấu thành từ 3 sức mạnh cơ bản (3 thuộc tính, tính chất, khuynh hướng, đức tính, .) (Guna): raijas, tamas, sattva.
Ba yếu tố này ở dạng cân bằng thì Prakriti ở dạng tiềm ẩn, không thấy được) và Purusha (ý thức, lý tính, tinh thần, nguyên lý tinh thần). Sự kết hợp giữa Purusha và Prakriti (hay sự tác động của Prurusha vào Prakriti) làm phá vỡ sự cân bằng nội tại của 3 guna trong Prakriti, từ đó thúc đẩy sự chuyển động, biến đổi, dẫn đến sự xuất hiện thế giới, vạn vật. Yoga dựa trên cơ sở triết học của Samkhya, nhưng về thực tiễn thì phát triển thực hành mang tính chất thần bí. Vaisesika mô tả, lý giải thế giới bằng 6 phạm trù (nguyên lý - Padartha): thể, tướng, dụng, phổ biến, đặc thù, hoà hợp.
Nó cho 3 cái đầu tồn tại một cách hiện thực; còn 3 cái sau là sản phẩm của trí tuệ, tư duy lôgíc. Thực thể bao gồm 9 yếu tố: 5 yếu tố vật chất: đất, nước, lửa, không khí, Akasa; 4 yếu tố phi vật chất: Manas (thức, trí tuệ), không gian, thời gian, Atman (linh hồn). Nyaya và Vaisesika là hai phần của một cái chỉnh thể, chúng liên hệ, bổ sung lẫn nhau. Vaisesika phát triển mặt bản thể luận, còn Nyaya phát triển mặt nhận thức, lôgíc.
Mimansa gần với tôn giáo, nó nghiên cứu phương thức nghi lễ trong các kinh Veda, và chỉ khi đó nó mới động chạm tới những vấn đề triết học. Còn Vedanta phát triển những tư tưởng của Vêda trên bình diện triết học, đặc biệt là các kinh Upanishad. 16 Tài liệu đang trong quá trình xin ý kiến góp ý để hoàn thiện.