mở đầu về hệ thống tương hỗ cách thăm dò thống kê để xác định hiệu quả của việc cầu kinh.Pearson thành lập tạp trí sinh trắc. Kế tục công trình của Gallton, K.Pearson là một trong nhưngx người sáng lập ra ngành toán học thống kê hiện đại. Ông nghiên cứu các mẫu, đưa ra những hệ số mà ngày nay người ta gọi là hệ số Pearson. Ông nghiên cứu lý thuyết tiến hóa theo mô hình thống kê toán học của ông.
Còn nhà toán học V. Gosset đã đưa ra lý thuyết chọn mẫu nhỏ để rút ra kết luận xác đáng nhất từ hiện tượng nghiên cứu. Fhisher đã có công phân chia các phương pháp phân tích số lượng, ông đã phát triển các phương pháp thống kê để so sánh những trung bình hai mẫu, từ đó xác định sự khác biệt của chúng có ý nghĩa hay không.Mitrel đã đóng góp ý tưởng “phong vũ biểu kinh tế”. Như vậy, địa diện cho khuynh hướng này là cơ sở lý thuyết xác suất thống kê.
Đó là một trong những ngành toán ứng dụng. Góp phần quan trọng cho sự phát triển của thống kê là các nhà khoa học thực nghiệm; ở thế kỷ XVIII, trong công trình khoa học của I.Tatisev (1686 – 1750) thống kê chỉ được luận giải chủ yếu như một ngành khoa học mô tả. Nhưng sau đó, vào thế kỷ XIX, khoa học thống kê đã trở thành ý nghĩa nhận thức, V. Porosin (1809 – 1868) trong tác phẩm “Nghiên cứu nhận xét về nguyên lý thống kê” đã nhấn mạnh: “Khoa học thống kê không chỉ giới hạn ở việc mô tả”.Srezenev (1812-1880) trong quyển “Kinh nghiệm về đối tượng, các đơn vị thống kê và kinh tế chính trị” đã nói rằng: “Thống kê trong rất nhiều trường hợp ngẫu nhiên đã phát hiện ra”:”những tiêu chuẩn hoá””.
Nhà thống kê học danh tiếng D.Jurav (1810- 1856) trong nghiên cứu “Về nguồn gốc và ứng dụng của số liệu thống kê” đã cho rằng: “Thống kê là môn khoa học về các tiêu chuẩn của việc tính toán” Trong nghiên cứu của giáo sư trường địa học Bách khoa Peterbur A.Truprov (1874-1926) , thống kê được xem như phương pháp nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội số lớn … Như vậy, lịch sử phát triển thống kê cho thấy: Thống kê là một môn khoa học, ra đời và phát triển nhờ vào sự tích luỹ kiến thức của nhân loại, rút ra được từ 15 kinh nghiệm nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, cho phép con người sử dụng để quản lý xã hội. Trong việc chuẩn bị nhằm có được thông tin chính xác, đầy đủ cho hoạt động kinh doanh các nhà quản trị, chuyên viên kinh tế cần được trang bị tốy về kiến thức thống kê, bao gồm nhiều môn học. Trươc hết, là môn lý thuyết thống kê – môn cơ sở để nghiên cứu, thống kê kinh tế xã hội. Ngoài ra cần các môn thống kê chuyên ngành.
Đối tượng nghiên cứu của thống kê học - Thống kê học nghiên cứu các hiện tượng và quá trình KT - XH. Các hiện tượng và quá trình này bao gồm: + Các điều kiện của sản xuất và trình độ sản xuất là dân số, sức lao động, tài nguyên thiên nhiên, của cải quốc dân tích luỹ… + Quá trình tái sản xuất xã hội qua các khâu gồm sản xuất , phân phối, và sử dụng sản phẩm xã hội + Ngoài ra, nó còn nghiên cứu về đời sống và sinh hoạt của nhân dân gồm trình độ văn hoá, tình hình sức khỏe, tình hình sinh hoạt chính trị, xã hội. + Phạm vi nghiên cứu của thống kê học là các hiện tượng sản xuất không bao gồm các hiện tượng tự nhiên, các vấn đề kỹ thuật, tuy nhiên trong nghiên cứu, thống kê học phải nghiên cứu đến những ảnh hưởng của tự nhiên và kỹ thuật đối với sự phát triển của sản xuất. - Thống kê học nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ chặt chẽ với mặt chất của một hiện tượng, một quá trình cụ thể, bởi vì mọi sự vật cũng như mọi hiện tượng sản xuất đều có mặt chất và mặt lượng không tách rời nhau.
Mặt lượng phản ánh qui mô, tốc độ phát triển…trong nội bộ sự vật. Ví dụ như mặt lượng giúp ta nghiên cứu qui mô sản xuất của một xí nghiệp: có số công nhân là bao nhiêu, số sản phẩm sản xuất ra trong một ngày…hoặc giúp ta nghiên cứu kết cấu công nhân. Mặt chất giúp ta biết được sự vật đó là cái gì? Giúp ta phân biệt sự vật ấy với sự vật khác. Ví dụ như nghiên cứu chế độ sản xuất, chế độ phục vụ.
- Thống kê nghiên cứu hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội số lớn: + Hiện tượng phát sinh và phát triển nó bao gồm nhiều yếu tố tác động đến, trong đó có những yếu tố tất nhiên quy định bản chất. Song cũng có yếu tố ngẫu nhiên làm ta hiểu sai lệch bản chất. Vì vậy để chỉ ra bản chất của hiện tượng ta phải nghiên cứu số lớn các hiện tượng kinh tế xã hội làm cho yếu tố tất nhiên bọc lộ và quyết định bản chất của hiện tượng, yếu tố ngẫu nhiên bị loại trừ, triệt tiêu. + Bên cạnh đó thống kê cũng nghiên cứu các hiện tượng cá biệt nhằm phát huy những hiện tượng tiên tiến, đồng thời khắc phục những nhược điểm.
- Thống kê nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội qua những điều kiện về thời gian và địa điểm cụ thể. Hiện tượng kinh tế xã hội bao giờ cũng tồn tại trong những thời gian và địa điểm cụ thể thì bản chất của hiện tượng mới được bọc lộ, con số thống kê mới là con số biết nói. Vì vậy tính cụ thể, tính chính xác của số liệu thống kê luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. 16 Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng: Thống kê học là một môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu mặt lượng trong sự liên kết chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Cơ sở lý luận của thống kê học - Các học thuyết kinh tế - Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước 4. Cơ sở phương pháp luận của thống kê học Thống kê học lấy chủ nghĩa duy vật làm cơ sở phương pháp luận, điều đó được thể hiện trên các phương diện: - Phương pháp xem xét và đánh giá quá trình hoạt động của doanh nghiệp trong trạng thái động. - Xem xột mối quan hệ biện chứng, quan hệ nhõn quả - Xây dựng các phương pháp đo lường, các công thức tính toán mang tính hệ thống, logíc… 5. Nhiệm vụ của thống kê học - Phản ánh trung thực về mặt lượng của các hiện tượng kinh tế chính trị xã hội; phục vụ tốt cho sự lãnh đạo quản lý hoạt động của các cơ quan, của Đảng và Nhà nước.
- Tổng kết, đánh giá thành tựu phát triển kinh tế, xã hội của doanh nghiệp, ngành và từng địa phương, góp phần tổng kết thành tựu phát triển các mặt của đất nước. - Cung cấp số liệu cần thiết cho việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế xã hội của doanh nghiệp, ngành, địa phương và cả nước, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch qua từng thời kỳ. - Đảm bảo tài liệu cho việc thông tin, tuyên truyền, động viên thi đua trong doanh nghiệp, trong ngành và trên toàn quốc. Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học 6.
Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể 6. Tổng thể thống kê a. Khái niệm Tổng thể thống kê là hiện tượng kinh tế xã hội số lớn gồm những đơn vị (hoặc phần tử, hiện tượng) cá biệt cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng. Ví dụ: + Toàn bộ các trường Cao đẳng ở Việt nam vào một thời gian xác định là một tổng thể thống kê.
+ Dân số Việt nam vào một thời điểm nào đó là một tổng thể thống kê + Tổng thể công nhân viên trong 1 doanh nghiệp + Tổng thể sinh viên trong 1 lớp, 1khoá, 1 ngành b. Phân loại tổng thể thống kê 17 - Tổng thể bộc lộ là tổng thể gồm các đơn vị mà ta có thể trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được (tổng thể nhân khẩu, tổng thể các trường đại học của Việt Nam.) - Tổng thể tiềm ẩn là tổng thể gồm các đơn vị mà ta không trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được. Muốn xác định được ta phải thông qua một hay một số phương pháp trung gian nào đó (tổng thể những người yêu thích nghệ thuật cải lương, tổng thể những người mê tín dị đoan, tổng thể những người trung thành với Tổ quốc.) - Tổng thể đồng chất là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau ở một hay một số đặc điểm chủ yếu có liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu. - Tổng thể không đồng chất là tổng thể gồm các đơn vị khác nhau ở những đặc điểm chủ yếu liên quan đến mục đích nghiên cứu.
Lưu ý: Việc xác định một tổng thể là đồng chất hay không đồng chất là tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể. Các kết luận rút ra từ nghiên cứu thống kê chỉ có ý nghĩa khi nghiên cứu trên tổng thể đồng chất hay nói cách khác, tổng thể thống kê là tổng thể đảm bảo được tính số lớn và tính đồng chất. - Tổng thể chung là tổng thể gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã được xác định. - Tổng thể bộ phận là tổng thể chỉ bao gồm một số đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã được xác định.
* Nghiên cứu tổng thể thống kê phải dựa vào các đặc điểm của đơn vị tổng thể, mỗi đơn vị tổng thể có nhiều đặc điểm trong đó có một đặc điểm cấu thành tổng thể, tức là các đơn vị đều có đặc điểm đó và các đặc điểm khác. Ví dụ: Tổng thể nhân khẩu của Việt Nam có đặc điểm chung (cấu thành tổng thể) là người Việt Nam, ngoài ra còn có đặc điểm khác, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp. Đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể là các đơn vị cá biệt cấu thành tổng thể, tuỳ theo tổng thể mà đơn vị tổng thể có thể là người, vật, yếu tố, hiện tượng… Ví dụ: Trong tổng thể dân số việt nam thì đơn vị tổng thể là mỗi người dân có quốc tịch Việt Nam. Số đơn vị tổng thể càng nhiều thì quy mô của tổng thể thống kê cáng lớn.
Các đơn vị tổng thể thống kê chỉ giống nhau ở đặc điểm cơ bản tạo nên tổng thể, các đặc điểm còn lại có thể khác nhau nhiều hay ít. Tiêu thức thống kê 6. Tiêu thức thống kê a.