Chương 1 TONG QUAN VE LUẬT THƯƠNG MAI VIET NAM I. KHÁI LƯỢC SU HINH THÀNH VA PHÁT TRIEN CUA PHAP LUAT THUONG MAI Nền kinh tế hang hoá hình thành, phát triển đã làm cho mua bán hàng hoá trở thành một hoạt động mang tính chuyên nghiệp và sản xuất hàng hoá không còn là con đường duy nhất dẫn đến lợi nhuận. Việc thực hiện luân chuyên, phân phối hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng, từ thị trường này sang thị trường khác đã trở thành cơ hội lợi nhuận tốt cho những người thực hiện nó. Lúc này, tầng lớp thương nhân đã dần hình thành trong xã hội và mua ban hàng hoá được họ coi là một nghề nghiệp chính - “Nghè thương mại”.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, tầng lớp thương nhân ngày càng đông và lớn mạnh. Từ thời cổ đại, người Phê-ni-xi ở Trung Cận Đông cũng đã nổi tiếng về hoạt động thương mại. Nửa đầu thiên niên kỉ thứ II trước công nguyên đã hình thành đông đảo tầng lớp thương nhân giầu có, chuyên buôn bán hàng hoá giữa nước này với nước khác.' Quan hệ kinh tế ' PGS. Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Nxb.
Đại học Quoc gia Hà Nội, 2006, tr. giữa các thương nhân hình thành, được điều chỉnh bởi tập quán, thông lệ, thói quen và nhiều quy tắc xử sự khác. Khi tập quán, thói quen, thông lệ không đủ để tạo ra quy tắc ứng xử giữa họ, những quy định pháp luật thương mại đầu tiên được ban hành, không chỉ dé điều chỉnh hoạt động thương mại của thương nhân mà còn xác định quy chế pháp lí hay địa vị pháp lí của thương nhân. Nhiều luật lệ, tập quán thương mại và hàng hải quốc tẾ, điển hình là Bộ luật Hamurabi (gồm 283 điều khoản) ra đời khoảng năm 1694 trước công nguyên, quy định về bảo vệ an toàn cho các thương nhân nước ngoài, quy định về hùn vốn, về gian dối trong buôn bán, về thuê mướn thuyền, tầu xe, nhân công, quy định về buôn bán nô lệ: quy định việc vận chuyền hàng hoá và cả phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng.” Ở giai đoạn phát triển của thời kì Trung cổ, luật giữa các thương nhân - Jaw merchant đã trở thành một chế định khá hoàn chỉnh, tập hợp các quy tac và quy phạm (thành văn và tập quán) nham điều chỉnh hàng loạt các vấn đề trong thương mại như: Tính hợp pháp của hợp đồng, nội dung của hợp đồng, các biện pháp chế tài do vi phạm hợp đồng, các phương thức giải quyết tranh chấp, quan hệ đại lí và uỷ thác, séc, hối phiếu, vận đơn và vận chuyền hang hoá, các công ti đối nhân và liên doanh, bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá và bang sáng chế, các quyền của thương nhân”.
Có thé coi đây là những quy định pháp luật đầu tiên, được hình thành từ nhu cau điều chỉnh hoạt động thương mại của thương nhân. ' Alnamach, Những nén văn minh thé giới, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1996, tr. Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Nxb.
Dai học Quốc gia Hà Nội, 2006, tr. Ỷ Carolyn Hotchkiss, International Law for Business, Mc Grow Hill, 1994, tr. Nguyễn Bá Diến, Giáo trình Luật Thuong mại quốc tế, Nxb. Dai học Quốc gia Hà Nội, 2006, tr.
10 Sự hình thành và phát triển không ngừng của những quy định pháp luật ghi nhận địa vị của thương nhân và hoạt động thương mại của họ đã trở thành nhân tố quan trọng, góp phần thúc day phát triển đa dạng các loại hình tô chức kinh doanh và các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thế giới và ở mỗi quốc gia. Những quy định pháp luật thương mại đầu tiên chủ yếu là những quy định điều chỉnh hành vi mua bán hàng hoá, bởi khi mới hình thành, khái niệm thương mại chỉ gắn liền với mua bán hàng hoá và những hành vi có liên quan đến mua bán hàng hoá diễn ra (chủ yếu) giữa các thương nhân. Pháp luật thương mại với tư cách là một lĩnh vực pháp luật tương đối độc lập trong pháp luật dân sự được hình thành dần dần ở châu Âu, bắt đầu bởi sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất va theo đó là đòi hỏi thay đổi các quan hệ sản xuất dang ton tại. Từ thế ki XVI, ngành công nghiệp ở châu Âu, đặc biệt là ở Anh, phát triển mạnh đã thúc đây thương mại hàng hải phát triển.
Luật của các thương nhân (Law Merchant) từng bước được nội luật hoá vào pháp luật quốc gia của nhiều nước, đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật Anh và nhiều quốc gia châu Âu, góp phan bảo vệ quyền lợi của thương nhân. Nhiều học thuyết nổi tiếng về thương mại hình thành như chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa tự do thương mại, đã trở thành cơ sở lí luận của chính sách và pháp luật thương mại của nhiều quốc gia. Thế ki XIX, nhiều bộ luật thương mại được ban hành, điển hình là Bộ luật Thương mại Pháp được ban hành năm 1807. Tiếp đó, Đức và các nước nói tiếng Đức cũng ban hành luật này.
Trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, Luật Thương mại thường : Carolyn Hotchkiss, International Law for Business, Mc Grow Hill, 1994, tr. Nguyen Bá Diên, Giáo trinh Luật Thuong mai quốc té, Nxb. Dai học Quoc gia Hà Nội, 2006, tr. lãi được nói đến với một phạm trù rộng hơn, gọi là Luật Kinh doanh.' Từ nửa sau thế kỉ XIX, tư tưởng tự do hoá thương mại và điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi thương mại ở châu Âu đã ảnh hưởng đến Việt Nam và châu Á.
Tại Việt Nam, dưới thời thuộc Pháp, trào lưu canh tân đất nước khuyến khích phát triển kĩ nghệ và thương mại đã bắt đầu có ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật thời đó. Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ ban hành năm 1931 đã quy định nhiều hình thức hùn vốn lập hội (hội buôn - công ti), bao gồm hội người và hội von. Bộ luật Thương mại áp dụng tại Trung phần được ban hành năm 1942, Luật Thương mại của chính quyền Việt Nam cộng hoà được ban hành năm 1972 cũng có nhiều quy định về công ti kinh doanh. Từ sau khi thống nhất đất nước, pháp luật thương mại Việt Nam cũng luôn được xây dựng và phát triển với tính chất là một lĩnh vực pháp luật tương đối độc lập với pháp luật dân sự, minh chứng bang sự hiện diện của Pháp lệnh Hop đồng kinh tế năm 1989, Luật Công ti năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014, Luật Thương mại năm 2005.
Các văn bản này đã song hành cùng với Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, 2015. Như vậy, có thể nói, sự hình thành, phát triển của nền sản xuất hàng hoá và sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân là lí do hình thành pháp luật thương mại. Nghiên cứu của nhiều học giả (đã dẫn) cho thấy, các quy định đầu tiên điều chỉnh hoạt động thương mại và xác định quy chế thương nhân ra đời rất sớm, xuất phát từ nhu cầu giao lưu thương mại quốc tế và có nguồn gốc từ các chế định, các quy tắc và quy phạm (thành văn và tập quán) khá hoàn chỉnh được nội luật hoá trong pháp luật của quốc gia. Ở mức độ khái quát, có thể hiểu, pháp luật thương mại là những i PIS.
Pham Duy Nghĩa, Giáo trinh Luật Thương mai Việt Nam, Nxb. Dai hoc Quoc gia Hà Nội, 1998, tr. 12 quy định pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm quy định quy chế thương nhân và điều chỉnh hoạt động thương mại của họ. Trong thời đại ngày nay, khái niệm “thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng, có nội hàm đồng nghĩa với khái niệm “kinh doanh”.
Quan hệ thương mại được hình thành giữa các thương nhân cùng quốc tịch, lãnh thổ hoặc có sự khác biệt về quốc tịch, lãnh thổ. Điều này dẫn đến sự phát triển của pháp luật thương mại về phạm vi, đối tượng điều chỉnh cũng như hình thức chứa đựng quy phạm pháp luật, theo đó, điều ước quốc tế đã và đang trở thành nguồn quan trọng của pháp luật thương mại. Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL thông qua ngày 21/6/1985 coi thương mại “bao gom nhưng không giới hạn bởi các giao dịch để cung cấp hay trao đổi hàng hoá, dịch vụ, các hợp đồng phân phối, chỉ nhánh hoặc đại điện thương mai, dai li, cho thuê, gia công, tư van, sở hữu công nghiệp, dau tw, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khai thác, tô nhượng, liên doanh hoặc các hình thức khác của hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh”.' Luật Thương mại của Việt Nam cũng hiểu khái niệm thương mại tương tự như vậy khi quy định: “Hoat động thương mai là hoạt động nhằm mục dich sinh lợi, bao gom mua bán hang hoá, cung ứng dịch vụ, đâu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục dich sinh lợi khác ”.? Sự phát triển theo hướng mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh của pháp luật thương mại thê hiện ở các khía cạnh cơ bản: - Trong pháp luật thương mại, có sự mở rộng về nội hàm của khái niệm “thương mại”, theo đó, từ điêm khởi đâu “thương mại” chỉ bao hàm ý nghĩa là hành vi mua bán hàng hoá nhằm mục đích ' Điều 1 Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL thông qua ngày 21/6/1985 (phân chú giải), nguôn: http://www.biz * Luật Thương mại năm 2005. 13 sinh lợi, đến nay, pháp luật thương mại quốc gia và quốc tế đều có xu hướng tiếp cận thương mại là tất cả những hành vi có mục dich sinh lợi và những hành vi đó có thé diễn ra trong các quan hệ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, nhượng quyền thương mai., có hoặc không có yếu tố nước ngoài; - Về quy chế thương nhân: Trong pháp luật thương mại, ngày càng có sự mở rộng đa dạng về các loại hình tô chức kinh doanh, theo đó, pháp luật quy định nhiều loại hình thương nhân, nhiều hình thức hiện diện thương mại, dap ứng nhu cầu hoạt động thương mại của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; - Về nguôồn luật: Nguồn luật điều chỉnh địa vị pháp lí của thương nhân và hoạt động thương mại của họ cũng phát triển đa dạng với các quy định của luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán thương mại, án lệ.
Các cam kết của Việt Nam trong WTO, các hiệp định thương mại song phương, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.