Thong kê, theo doi diễn biến tài nguyên rừng" Thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng rừng là việc ghi chép, tổng hợp diện tích trạng thái các loại rừng trên số sách và tổng hợp, đánh giá trên thực địa về hiện trạng rừng tại thời điểm thống kê và tình hình biến động về rừng giữa hai lần thống kê. Hoạt động này sẽ giúp các cơ quan quản lí nhà nước về rừng có thê kiểm soát được một cách thường xuyên tình trạng suy thoái rừng trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương. - Việc thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng được thực hiện như sau: - Việc thống kê rừng được thực hiện hàng năm và được công bố vào quý I của năm tiếp theo. - Việc kiểm kê rừng được thực hiện năm năm một lần và được công bồ vào quý II của năm tiếp theo.
- Việc theo đõi diễn biến tài nguyên rừng được thực hiện thường xuyên. - Đơn vị thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng là xã, phường, thị tran. Hoạt động này sẽ do ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn chủ rừng thực hiện theo biểu mẫu cũng như phương pháp thống kê đã được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định và hướng dẫn. Kết quả của hoạt động này phải được báo cáo lên Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Đồng thời, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chịu trách nhiệm tổng hợp kết quả thống kê rừng hàng năm và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.Xem: Mục 4 chương II Luật bảo vệ và phát trien rừng năm 2004 và Chương V Nghị định của Chính phủ sô 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 về thi hành Luật bao vệ và phát triên rừng. Pháp luật về hoạt động giao rừng, cho thuê rừng và thu hồi rừng” 2. Giao rừng và cho thuê rừng Hoạt động chủ yếu để kiểm soát suy thoái rừng của các cơ quan nhà nước là xác lập và giao rừng cho các tổ chức, cá nhân quản lí, phát triển vốn rừng trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt. Cu thé là: - Nhà nước giao rừng phòng hộ không thu tiền sử dụng đối với các ban quản lí rừng phòng hộ; tổ chức kinh tế; đơn vị vũ trang nhân dân; hộ gia đình, cá nhân dang sinh sống ở đó dé quản lí, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt.
Ngoài ra, Nhà nước còn có thê cho các tổ chức kinh tế thuê rừng phòng hộ trả tiền hàng năm để bảo vệ và phát triển rừng, kết hợp sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường. - Nhà nước giao rừng đặc dụng không thu tiền sử dụng rừng đối với các ban quản lí rừng đặc dụng, tổ chức nghiên cứu khoa học va phát triển công nghệ, dào tao, dạy nghề về lâm nghiệp dé quản lí, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng theo quy hoạch và kế hoạch đã được phê duyệt đồng thời, Nhà nước còn có thé cho tổ chức kinh tế thuê rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan trả tiền hàng năm để bảo vệ và phát triển rừng, kết hợp kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trường. - Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng không thu tiền sử dụng đối với hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại đó trực tiếp lao động lâm nghiệp; tổ chức kinh tế sản xuất giống cây rừng: đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng rừng (1).Xem: Mục 2 chương II Luật bảo vệ và phát triển rừng và Chương III Nghị định của Chính phủ số 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng. 256 sản xuất kết hợp với quốc phòng, an ninh; ban quản lí rừng phòng hộ trong trường hợp có rừng sản xuất xen kẽ trong rừng phòng hộ đã được giao cho ban quản lí.
Nhà nước cũng giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng đối với các tô chức kinh tế. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng sẽ được Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng trồng dé thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo quy định của pháp luật đầu tư. Nhà nước còn có thé cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình cá nhân trong nước thuê rừng sản xuất trả tiền hàng năm dé sản xuất lâm nghiệp, kết hợp sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc kinh doanh cảnh quan du lịch sinh thái. Nhà nước cũng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tô chức, cá nhân nước ngoài thuê rừng sản xuất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền hàng năm để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp theo luật đầu tư, kết hợp với sản xuất nông lâm ngư nghiệp hoặc kinh doanh cảnh quan du lịch sinh thái.
- Thâm quyền giao rừng, cho thuê rừng được quy định cho uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện. Theo đó, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thâm quyền giao rừng cho các tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê rừng. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giao và cho các hộ gia đình, cá nhân thuê rừng. Thu hôi rừng Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có thé sẽ bi thu hồi diện tích rừng đã được giao trong các trường hợp sau đây: - Nhà nước sử dụng rừng và đất để phát triển rừng vào mục đích công cộng như để đảm bảo quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế theo quy hoạch.
- Chủ rừng không còn hoặc không có nhu cầu sử dụng rừng. 257 Chăng hạn như: Chủ rừng là cá nhân đã chết mà không có người thừa kế hợp pháp; chủ rừng tự nguyện trả lại rừng. - Chủ rừng vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ và sử dụng rừng, phát triển rừng. - Rừng được giao không đúng thâm quyền hoặc không được gia hạn khi đã hết thời hạn.
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phan rừng cho các mục đích công cộng hoặc trong trường hợp chủ rừng tự nguyện trả lại rừng hay thời hạn sử dụng rừng đã hết thì chủ rừng được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư, tài sản bị thu hồi. Việc bồi thường này được thực hiện băng các hình thức như: Giao rừng, cho thuê rừng khác có cùng mục dich sử dụng; giao đất để trồng rừng mới; bồi thường bằng hiện vật hoặc băng tiền tại thời điểm có quyết định thu hồi. Đây là khoản tiền mà Nhà nước phải trả cho chủ rừng tương xứng với các khoản thu nhập chủ rừng có thể được hưởng trong thời gian còn lại mà chủ rừng được giao, được thuê từ khai thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học theo quy chế quản lí và sử dụng rừng. Thâm quyền thu hồi rừng được quy định trùng với thâm quyền giao rừng.
Nghĩa là, cơ quan nhà nước có thâm quyền giao loại rừng nào thì cũng có thẩm quyền thu hồi loại rừng đó. Pháp luật về hoạt động tự kiểm soát suy thoái rừng của các tô chức, cá nhân. Đề thực hiện kiểm soát một cách hiệu quả tình trạng suy thoái rừng trên phạm vi cả nước, việc quy định cụ thể nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi khai thác sử dụng từng loại rừng có ý nghĩa hết sức quan trọng, chúng đảm bảo cho hoạt động tự kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng của các t6 chức cá nhân được tuân thủ một cách nghiêm ngặt và có định hướng rừ. Luật bảo vệ và phát triển 258 rừng năm 2004; Nghị định của Chính phủ số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 186/2006/QD-TTg ngày 14/8/2006 về việc ban hành Quy chế quản lí rừng có quy định cụ thé về van dé này như sau: 2.
Đối với rừng phòng hộ Kiểm soát tốt tình trạng suy thoái rừng phòng hộ sẽ là nhiệm vụ hết sức quan trong dé bảo vệ môi trường sinh thái và cũng là bảo vệ cuộc sống của chính con người. Dé thực hiện hoạt động tự kiểm soát suy thoái rừng phòng hộ, chủ rừng phải có trách nhiệm lập và trình cơ quan nhà nước có thâm quyền xét duyệt phương án quản lí, sử dụng rừng, đất trồng rừng cũng như tổ chức thực hiện phương án đã được phê duyệt. Trong quá trình tiến hành các hoạt động khai thác, sử dụng rừng phòng hộ, chủ rừng và các tổ chức, cá nhân khác phải đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ chủ yếu sau: Thứ nhất: Phải có kế hoạch, biện pháp cụ thé dé bảo vệ, nuôi dưỡng diện tích rừng hiện có. Đề thực hiện tốt nghĩa vụ này, chủ rừng được tô chức các lực lượng bảo vệ rừng như: Tổ chức lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, hợp tác hoặc liên kết với các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc thuê các lực lượng chuyên nghiệp dé bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, việc kinh doanh đặc sản rừng, động vật rừng cũng cần được tiến hành theo đúng phương án đã được phê duyệt. Thứ hai: Phải thực hiện trồng rừng, phục hồi và cải tạo rừng theo hướng sau dé đảm bảo thực hiện tốt nhất chức năng phòng hộ cũng như đảm bảo sự bền vững của chúng, cụ thê: - Rừng phòng hộ đầu nguồn phải xây dựng thành rừng tập trung có cấu trúc hỗn loài, khác tuôi, nhiều tầng. 259 - Rừng phòng hộ chăn gió, chắn cát bay phải có ít nhất một đai rừng chính kết hợp với các đai rừng phụ tạo thành ô khép kín. - Rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển phải có ít nhất một đai rừng gồm nhiều hang cây khép tán và các đai rừng có cửa số so le nhau theo hướng sóng chính.
- Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường cũng phải được xây dựng thành các đai rừng phù hợp với điều kiện tự nhiên ở từng vùng. Thứ ba: Trong quá trình bảo vệ, nuôi dưỡng, gây trồng rừng phòng hộ, chủ rừng muốn kết hợp sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái ho?c nghiờn c?u khoa h?c phải có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm ngặt quy chế rừng phòng hộ, không được gây hại đến tác dụng phòng hộ của rừng. Điều đó có nghĩa, các hoạt động kết hợp nêu trên phải được thực hiện theo đúng phương án quản lí, sử dụng đã được phê duyệt.