CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VE QUYEN VÀ NGHĨA VU CUA NGƯỜI THỪA KE 1. Khái quát về thừa kế 1. Căn cứ phát sinh ra quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Trong pháp luật, thừa kế là quá trình chuyển nhượng các tài sản, quyền lợi của người chết (người để lại di sản thừa kế) sang cho người khác (người thừa kế). Quá trình này thường được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về thừa kế của quốc gia.
Cụ thể, khi một người qua đời, di sản của người đó sẽ được chuyển nhượng đến các người thừa kế có thể thông qua di chúc hoặc theo quy định của pháp luật của quốc gia. Quá trình này có thể bao gồm việc chia tài sản, quyền lợi, trách nhiệm của người chết cho người thừa kế theo các phương thức như thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Có ba loại chính của thừa kế theo pháp luật của nhiều nước được phân chia dựa trên cách mà di sản của người đã mat được truyền cho người thừa kế: (1) Thừa kế theo di chúc là loại thừa kế mà người qua chết dé lại một di chúc (hay một bản ghi có giá trị pháp lý khác) xác định việc phân chia di sản cho các người thừa kế cụ thé. Di chúc có thé chỉ định rõ ràng về việc phân phối tài sản, quyền lợi, và các điều kiện liên quan.
(2) Thừa kế theo pháp luật khi người qua đời không để lại di chúc hợp lệ, hoặc di chúc không xác định đầy đủ về việc phân chia di sản, thì các quy định pháp luật về thừa kế sẽ áp dụng. Những quy định này thường được quy định trong luật di sản của từng quốc gia, và xác định việc chuyền nhượng tài sản, quyên lợi theo các quan hệ gia đình nhất định. (3) Thừa kế theo ý chí hay thừa kế hỗn hợp là một hình thức thừa kế phức tạp hơn, trong đó di sản được chuyên nhượng dựa trên cả di chúc và các quy định pháp luật. Điều này có thể xảy ra khi di chúc không hoàn toàn hợp lệ, hoặc có mâu thuẫn giữa các quy định trong di chúc và luật di sản.
Tuy nhiên thừa kế hỗn hợp này không được đặt ra ở Việt Nam. Nhưng có một thực tế là đi chúc phải nhường bược cho trường hợp luật định về thừa kế không phụ thuộc vào di chúc. Khi giải quyết trường hợp này chắc chắc có sự kết hợp giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật". Các loại thừa kế này thường được quy định rõ ràng trong luật pháp của từng quốc gia, nhằm bảo đảm sự công băng và xác định rõ ràng việc chuyên nhượng tài sản và quyền lợi của người đã mất đến người thừa kế.
Phạm vi của chế định thừa kế Con người sống luôn cần có tài sản. Vì vậy sự tồn tại và phát triển của con người luôn luôn gắn liền với tài sản như đất đai, nhà cửa, phương tiện giao thông, gạo nước, quần áo, đồ đạc trong nhà và những tải sản vô hình khác. Các tài sản như vậy được sử dụng dé đáp ứng các nhu cầu sống của con người. Do có nhiều hoạt động sống khác nhau và nhiều nhu cầu khác nhau trong đời sống, nên con người cần tới nhiều dạng tài sản khác nhau.
Khi một người chết đi, tài sản còn lại của người này không mất đi tác dụng đáp ứng nhu cầu sống của người khác. Vì vậy những tài sản đó cần phải được khai thác cho những người còn sống. Vậy ai là người được quyền đối với các tài sản đó. Một khối lượng tài sản nhất định không thể chia đồng đều cho tất cả các thành viên cộng đồng.
Chế định thừa kế ra đời dé thực hiện việc chuyên dich tài sản như vậy sang cho người hoặc một số người nào đó đang còn sông. Thừa kế là một khái niệm căn bản chỉ sự chuyền dịch quyền sở hữu tài san từ người chết sang cho người còn sống. Vì vậy dé bảo đảm cho quyền dé lại di sản thừa kế và quyền được nhận thừa kế của công dân pháp luật cho ra đời một chế định pháp luật cũng có tên gọi là chế định thừa kế. Khái niệm thừa kế là một khái niệm căn bản và quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam.
Và chế định thừa ' Ngô Huy Cương (2023), Luật tài sản cho cao học, Bài giảng điện tử. kế này quy định về việc chuyền giao tài san của người chết cho những người còn sống và quyền và nghĩa vụ có liên quan của họ. Vậy có thể định nghĩa: Thừa kế là quá trình chuyển giao tài sản, quyền sở hữu tai sản của người chết dé lại di sản cho người hoặc những người còn sông (người thừa kế) và làm phát sinh ra các quyền và nghĩa vụ liên quan. Gắn với thừa kế là khái niệm “di sản thừa kế” mà thường được hiểu là bao gồm tài sản thuộc sở hữu của người chết và các quyền và nghĩa vụ liên quan về tài sản.
Người dé lại di sản luôn được thừa nhận có quyền dé lại di chúc dé chuyên tài sản và quyền sở hữu tài sản của mình cho người còn sống sau khi chết. Di chúc là văn bản pháp lý thé hiện ý chí của người lập di chúc về việc phân chia di sản của mình như trên đã phân tích về các căn cứ làm phát sinh quan hệ thừa kế. Nếu người để lại di sản không lập di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, tài sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Pháp luật thường quy định về diện thừa kế và các hàng thừa kế, cũng như quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.
Quá trình địch chuyên tài sản của người chết sang cho người hoặc một số người còn sống được hình thành và tổn tại trong bat kỳ xã hội nào kê từ khi con người biết tới khái niệm quyền sở hữu tài sản và được điều chỉnh bởi tập quán hoặc pháp luật do Nhà nước ban hành theo các giai đoạn lịch sử khác nhau. Tuy nhiên thừa kế có thê được nghiên cứu ở ba phương diện khác nhau- đó là phương diện pháp lý; phương diện kinh tế; và phương diện lịch sử. + Ở phương diện pháp lý, như trên đã nói: Thừa kế là một chế định không thể thiếu của luật dân sự mà trong đó có các quy định về khái niệm, phân loại, chủ thé va các quyền và nghĩa vu của các chủ thé liên quan tới di sản và thừa hưởng di sản của người chết. Tất nhiên các quy định này không chỉ tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn nằm ở các loại nguồn khác như phong tục, tập quán, án lệ, lẽ công bằng,.
Tuy nhiên ở nhnwegx nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa thì Bộ luật Dân sự là nơi chứa đựng chủ yếu và toàn điện các quy định đó. +0 phương diện kinh té, thừa kế được xem như một sự chuyên dịch tài sản từ thế hệ này sang thế hệ khác dé tiếp nối sử dụng phục vụ cho nhu cầu sông của con người”. Như vậy cái chết của con người không phải là hết mà tài sản của người chết vẫn được sử dụng cho sự phát triển của kinh tế- xã hội nói chung, vẫn có ích. + Ở phương diện lịch sử, thừa kế được xem xét gắn với từng giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài từ sự phát triển của các dang tai san cho toi su phat triển của khoa hoc - công nghệ và hình thái kinh tế- xã hội.
Tuy nhiên dé án này chỉ nghiên cứu về các van đề pháp lý liên quan, có thé tùy từng nội dung nghiên cứu đề cập tới kinh tế va lịch sử liên quan. Thừa kế từ trước tới nay không chỉ là việc chuyển giao tài sản mà còn là việc duy trì và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân và gia đình. Chế định thừa kế góp phần ôn định xã hội, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và đảm bảo công bang trong phân chia tài san sau khi người dé lại di sản qua đời. Thừa kế trong pháp luật là một lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về các quy định pháp luật cũng như các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.
Nếu tư liệu tiêu dùng là phương tiện sinh hoạt thì tư liệu sản xuất là phương tiện để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinhdoanh và tài sản chính là phương tiện duy trì cuộc sống của con người. Khi sống, con người sử dụng tài sản để thoả mãn cho các nhu cầu trong cuộc sống thì khi chết, nhữngtải sản còn hiện hữu này sẽ được dịch chuyển cho người còn sống để tài sản được tiếp tục sử dụng phục vụ cho cuộc sống. Việc dịch chuyền tài sản nói trên từ thế hệ này sang thế hệ khác kế tiếp thường được gọi là thừa kế. > Xem Ngô Huy Cương (2023), Các van dé pháp lý nên tảng của chế định thừa kế, Bài giảng điện tử cho học viên cao học.
Nói tóm lại, thừa kế là một chế định bao gồm các vấn đề pháp lý chủ yếu sau: + Thứ nhất, quyền thừa kế và các nguyên tắc của luật thừa kế; + Thứ hai, di sản thừa kế; + Thứ ba, thừa kế theo di chúc; + Thứ tr, thừa kế theo pháp luật; + Thứ năm, chia thừa kế. Vậy quyền và nghĩa vụ của người thừa kế có thể xuất hiện trong các mang van đề pháp lý nói trên. Về mặt pháp lý, chế định thừa kế được thiết lập theo những nguyên tắc Sau: + Nguyên tắc bình dang nói lên rằng mọi người đều hoàn toan bình đăng trong việc hưởng quyền dé lại di sản thừa kế và hưởng di sản thừa kế. Vì vậy những người thừa kế đều bình dang với nhau về quyền và nghĩa vụ liên quan tới thừa kế, không phân biệt giới tính, tuổi tac, tôn giáo, hay quốc tịch.
+ Nguyên tắc tự do lập di chúc để lại tài sản thừa kế nói lên răng người để lại đi sản có quyền tự đo lập di chúc, miễn là không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội. + Nguyên tắc bảo vệ quyên lợi hợp pháp của người thừa kế nói lên rằng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế, đặc biệt là người chưa thành niên, người già yếu, và người không có khả năng lao động. Khái niệm người thừa kế Người thừa kế là những người có quyền hợp pháp được nhận di sản của người chết theo các quy định của di chúc hoặc theo các quy định của pháp luật mà di chúc có hiệu lực luôn được ưu tiên áp dụng.