CHƯƠNG 1 PHAP LUAT VE THUE TÀI SAN - NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN 1. NHUNG VAN DE LY LUAN CO BAN VE THUE TAI SAN 1. Khai niém thué tai san Nhà nước ra đời tất yếu dẫn tới nhu cầu chi tiêu nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và duy trì hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước. Khoản chỉ tiêu đó thực hiện được chủ yếu do dân chúng đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau.
Theo cách phân loại khoản thu của một số học giả về lĩnh vực tài chính công, những khoản thu này bao gồm những khoản thu đối khoản và những khoản thu không đối khoản [3,tr. Những khoản thu đối khoản là những khoản thu mà khi Nhà nước có được khoản thu này thì kèm theo đó là một nghĩa vụ hoàn trả, ví dụ như các khoản vay nợ. Những khoản thu đối khoản có thể tạm thời đem lại khả năng sử dụng cho Nhà nước, song về lâu dài, Nhà nước không trực tiếp gia tăng được nguồn lực cho mình. Ngược lại với những khoản thu đối khoản là những khoản thu không đối khoản, mà theo đó, Nhà nước không có nghĩa vụ hoàn trả tương ứng với phần thu nhập mà mình được nhận.
Nói cách khác, những khoản thu nay Nhà nước “lấy không” từ xã hội. Lịch sử đã chứng minh rằng, phải chủ yếu dựa vào những khoản thu không đối khoản mới đảm bảo cho Nhà nước thực hiện một cách chủ động những chức năng, nhiệm vụ của mình. Khoản thu quan trọng nhất trong những khoản thu đó được gọi là thuế. Cùng với việc mở rộng các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển của các quan hệ hàng hóa, tiền tệ, các hình thức thuế ngày càng đa dạng, trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước tác động đến các quan hệ kinh tế - xã hội.
Có thé thấy, trong bat kỳ xã hội có nhà nước nào, thuê đêu là một yêu tô không thê thiêu, dù ở môi kiêu nhà nước, công cụ thuế được thể hiện dưới những hình thức khác nhau. Benjamin Franklin (1706 — 1790) - chính trị gia đồng thời là nhà khoa học nỗi tiếng của Mỹ đã có một nhận định nỗi tiếng: “ Trong cuộc sống, không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế”. Thuế là khoản thu bắt buộc do cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định mà cá nhân, tổ chức trong xã hội phải nộp cho Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định. Có nhiều cách quan niệm về thuế, nhưng tựu trung lai, các học giả đều thống nhất về một số đặc điểm nổi bật của thuế bao gồm: tính quyền lực, tính bắt buộc, tính không đối khoản và không hoàn trả trực tiếp [8, tr.
Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, đồng thời tao cảm giác “siam nhẹ” trách nhiệm đóng thuế cho cá nhân, tổ chức trong xã hội, thuế thường được ban hành gồm nhiều loại thuế khác nhau. Theo cách thức phân chia phố biến dựa trên đối tượng tính thuế, thuế có thể được chia thành ba loại là thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế tài sản. Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập được đem ra tiêu dùng thông qua việc mua hàng hoá hay dịch vụ. Do vậy loại thuế nảy còn được gọi là thuế hàng hóa hay thuế bán hàng.
Thuế tiêu dùng do những người kinh doanh có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước và thông thường, những khoản tiền nộp thuế sẽ được tính là chi phí kinh doanh của doanh nghiệp và đưa vào giá thành sản phẩm. Ở Việt Nam, thuế tiêu dùng bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thuế thu nhập là loại thuế đánh vào thu nhập của ca nhân, tổ chức trong xã hội nhằm điều tiết một phần thu nhập của các chủ thé này, đảm bảo công bằng xã hội. Thuế thu nhập ở Việt Nam hiện nay gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Thuế tài sản là loại thuế có đối tượng chịu thuế là tài sản. Nhà nước thường lựa chọn một số loại tài sản cụ thể để đánh thuế, nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đảm bảo công băng xã hội, “thuế tài sản có thể là một cơ chế đơn giản về mặt hành chính và hữu hiệu cho việc tạo ra thu nhập cho nhà nước và chan chỉnh những bat công to lớn về phân phỗi thu nhập” [12, tr. Xét dưới một khía cạnh nhất định, vai trò của thuế tài sản tương tự như thuế thu nhập. Do vậy, dé làm rõ bản chất của thuế tài sản, cần bắt đầu từ việc phân biệt khái niệm “tài sản” và khái niệm “thu nhập”.
Khái niệm tài sản được ghi nhận tại Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 mà theo đó, “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Như vậy, khái niệm tài sản theo quy định trên tuy khái quát nhưng vẫn mang tính liệt kê, không chỉ r6 được bản chất của tài sản. Xét một cách khái quát, tài sản là những vật, hữu hình hoặc vô hình, cùng với những quyền năng gắn liền với chúng, đem lại một lợi ích nhất định cho chủ sở hữu tài sản ấy. Một khái niệm dễ gây nhằm lẫn với khái niệm tài sản là khái niệm thu nhập.
Hiện nay, trong những văn bản pháp luật đang có hiệu lực thi hành, không có văn bản nao định nghĩa về thu nhập mà chỉ liệt kê các loại thu nhập. Khác với tài sản, khi nói đến thu nhập cần phải xác định dưới hai khía cạnh sau: Thứ nhất, khi nói đến thu nhập, người ta thường quan tâm đến giá trị hơn là quan tâm đến việc thu nhập ấy được biểu hiện ra bang loại tài sản nao. Nếu một người nói anh ta có thu nhập là 5 triệu đồng/tháng, thì khoản thu nhập ấy có thé là bằng tiền hoặc chứng khoán hay một tài sản khác. Thứ hai, khi nói đến thu nhập, thực chất là quan tâm đến phần giá trị tài sản được gia tăng của chủ sở hữu trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ như một tháng, sáu tháng hay một năm hoặc từ một mốc thời gian nào đó đến hiện tại).
Khác với giá tri tài sản là tong giá trị quy đổi thành tiền của chủ sở hữu tại một thời điểm nhất định, thu nhập chỉ có nghĩa là phan giá trị tài sản được gia tăng trong một khoảng thời gian nhất định. Từ những phân tích trên đây, có thể nhận thấy ranh giới phân định giữa thuế tài sản và thuế thu nhập không thật sự tách bạch. Dưới một khía cạnh nào đó, đánh thuế vào tài sản cũng có nghĩa là đánh thuế vào thu nhập và ngược lại và về mặt lý thuyết, chỉ cần đánh thuế thu nhập là đủ bởi các khoản thuế xét đến cùng đều lấy từ thu nhập của dân chúng. Do vậy, bên cạnh việc xem xét đến bản chất của đối tượng chịu thuế, cũng cần phải tìm hiểu từ khả năng đánh thuế của Nhà nước khi thực hiện các loại thuế này; việc đánh thuế tài sản sẽ tạo điều kiện để giảm mức thuế suất thuế thu nhập và động viên phần thu nhập chưa bị đánh thuế hay những thu nhập được vật hóa nhằm trốn hay tránh thuế thu nhập.
Thuế đánh vào tài sản là một trong những loại thuế xuất hiện sớm nhất trong lịch sử thuế khóa của nhân loại. Tính chất lịch sử của loại thuế này được Philip E.Taylor, một học gia Hoa Kỳ nhận định một cách sinh động: “Các nhà lập pháp cũng như các người chịu thuế xem thuế đó với tất cả sự tôn kính mà một xã hội văn minh thường dành cho các bậc bô lão” [17, tr. Thật vậy, theo các tài liệu nghiên cứu, thuế đất đã xuất hiện ở Hy Lạp cé từ năm 596 trước công nguyên [14, tr. Nhìn chung, thuế đánh vào đất đai là loại thuế tài san phổ biến được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các quốc gia bởi đất đai dé nhận biết và quản lý, dù không có khả năng tăng thêm về mặt số lượng nhưng lại có khả năng sinh lợi qua tác động của người sử dụng.
Thậm chí, có những nhà tư tưởng đã đề ra học thuyết về thuế đơn nhất đánh trên đất đai vì cho rằng, theo cách đánh thuế này, “Nhà nước thực chất sẽ trở thành một ông chủ đất mà trên danh nghĩa lại không bị mang tiếng là ông chủ.Không một ông chủ đất nào bị tịch thu đất: ta sẽ không phải đưa ra một mức khống chế về số lượng đất mà một người được phép sở hữu. Chúng ta có thể nói: hãy hủy bỏ các loại thuế, trừ thuế trên các giá trị đất đai” [3, tr. Bên cạnh đó, khi nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu chi tiêu cũng như quản lý của Nhà nước ngày một lớn thì đối tượng chịu thuế tài sản cũng được mở rộng, không chỉ bao gồm đất dai mà còn có thé là nha cửa, gia súc, tài sản khác. Tài sản được lựa chọn đánh thuế thường có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, tài sản chịu thuế thường là tài sản hữu hình mà Nhà nước có khả năng quản lý.
Day là một đặc điểm phổ biến ở hầu hết các quy định về thuế tài sản các quốc gia trên thế giới. Những tài sản hữu hình thường dễ kiểm soát hơn cũng như dễ xác định giá trị hơn những tài sản vô hình. Đối với những tài sản vô hình, “nhân viên thu thuế không thê đi bộ hay đi xe ở đường phố mà nhìn thấy loại tài sản này.Nhân viên thu thuế giỏi đến đâu cũng chỉ gây được thành tích tốt bằng cách ghi vào thuế bộ những bất động sản nhưng người đó sẽ không thu được những kết quả tốt đẹp, và gần như thất bại hoàn toàn đối với những tài sản vô hình” [17, tr. Thông thường, những tài sản vô hình được quy đổi thành giá trị và chịu thuế khi tạo lập hoặc chuyển nhượng tài sản.
Thứ hai, tài sản chịu thuế thường có giá trị lớn và được sử dụng lâu dài. Xét về tính hiệu quả, đánh thuế vào những loại tài sản này dễ thu hơn do người sở hữu tài sản có điều kiện hơn, đồng thời họ không có cảm giác “vô lý” khi nộp thuế. Bên cạnh đó, những biện pháp quản lý Nhà nước đối với những loại tài sản này cũng khá chặt chẽ nên đảm bảo cho hiệu quả thu thuế. Những tài sản giá trị nhỏ dùng trong sinh hoạt hoặc tồn tại không lâu dài thường không phải chịu loại thuế này.
Thứ ba, phần lớn tài sản chịu thuế thường là tài sản thuộc sở hữu tư nhân.