CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 1. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về Tội giết người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Trước khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, nước ta phải chịu sự cai tri của chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân nên chưa có sự tồn tại hệ thống pháp luật hình sự một cách tự do và dân chủ. Khi bản Hiến pháp đầu tiên ra đời năm 1946 mang lại ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện trong đó bản Hiến pháp này được coi là nguồn để định hướng sự phát triển của pháp luật Hình sự (PLHS) của Việt Nam từ giai đoạn 1945 đến 1959, Trong giai đoạn này, nguồn trực tiếp của Luật hình sự (LHS) là các văn bản pháp luật được ban hành trong chế độ thuộc địa trước năm 1945 thuộc các sắc lệnh số 47/SL. Việc phải áp dụng các điều luật phân tán từ nhiều nguồn khác nhau được duy trì đến năm 1959 khi Chỉ thị số 772-TANDTC ngày 10/07/1959 ra đời.
Song hành trong quá trình áp dụng hệ thống luật cũ như giải pháp tình thé, chính quyền Nhà nước đã tiến hành xây dựng hệ thống pháp luật cho chế độ mới, đáp ứng yêu cau của thực tiễn. Day được coi là nguồn bổ sung, chủ yếu là các sắc lệnh được Chủ tịch nước ban hành cho các vấn đề cấp thiết với cách mạng Việt Nam thời kỳ đó như các đạo luật, chế tài hình sự đảm bảo thực hiện các chính sách được Chính phủ kháng chiến ban hành và nhăm sửa đôi các quy định trong luật cũ cho phù hợp với tình hình thời kỳ, vì vậy, các sắc lệnh được dé cập chung chung “ nếu vi phạm. thì sẽ bị truy tố trước Toa án quân sự”. Trong giai đoạn 1959-1985, Pháp lệnh và Sắc luật giữ vai trò điều chỉnh 9 quan hệ PLHS, quy định hệ thống và đầy đủ các vấn đề về tội phạm, hình phạt và các vấn đề liên quan khác đến trách nhiệm hình sự (TNHS) của người phạm tội.
Hiến pháp mới ra đời quy định sự thành lập của TANDTC nhưng phải chịu sự chi phối của chiến tranh đến tháng 4 năm 1958, Quốc hội mới quyết định thành lập TANDTC đánh dấu ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của pháp luật Việt Nam. Nhờ những bản tổng kết hàng năm, tổng kết chuyên đề của TANDTC, hệ thống PLHS đã có nguồn pháp luật bổ sung quan trọng từ thực tiễn xét xử, đặc biệt đối với các tội phạm xâm phạm sức khoẻ, tính mạng con người như Bản Tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970; Luật số 103/SL ngày 20/5/1957 của TANDTC quy định về việc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (PVCĐ). Từ những quy định trên khi áp dụng vào thực tiễn, TANDTC đã đưa ra bản tong kết thực tiễn thông qua Chi thị số 07-TANDTC/CT ngày 22/12/1983 nhằm hướng dẫn cách phân biệt các trường hợp phạm tội do vượt quá giới hạn PVCD, trong đó có Tội giết người do vượt quá giới hạn PVCD với các trường hợp phạm tội thông thường khác. Đây được coi là các bản hướng dẫn nghiệp vụ đầu tiên trong việc giải quyết các vụ án hình sự và là nguồn LHS Việt Nam trong những năm đó, chưa có quy định cụ thê về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Điều này chỉ thực sự chấm dứt khi có sự ra đời của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985. Trong lần pháp điển hoá lần đầu tiên, BLHS năm 1985 đã ghi nhận khái niệm pháp lý PVCD tại khoản 1 Điều 13 và Tội giết người do vượt quá giới hạn PVCĐ dựa trên sự kế thừa của các quy định, văn bản pháp luật trước đó tại Điều 102: “Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chỉnh đáng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị tù từ ba tháng đến ba năm. ” Đề làm rõ hơn quy định khi áp dụng vào thực tế, Hội đồng Thâm phán của TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 02/HDTP 10 ngày 05/01/1986 để hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1985, đề cập đến các vấn đề về PVCĐ như nội dung, điều kiện áp dụng, trường hợp vượt quá giới hạn PVCĐ,. Bộ luật hình sự năm 1985 đã đặt dấu mốc đầu tiên khi quy định cụ thể về tội phạm này khi đưa ra hình phạt tương ứng, nhưng điều luật sơ khai còn nhiều thiếu sót khi chưa sự chỉnh chu về nội dung quy định, chưa sự hình thành về những khái niệm cụ thể của tội phạm này hay đối với các tình huống có tính chất nghiêm trọng khi xâm phạm đến tính mạng nhiều người trở lên, các dấu hiệu định tội khiến các cơ quan có thâm quyền khó khăn trong quá trình xác định tội danh và đưa ra quyết định hình phạt phù hợp với người phạm tội.
Đến lần pháp điển hoá thứ hai, BLHS năm 1999 đã quy định tội phạm này tại Điều 96: “J. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm. ” Qua lần sửa đôi, bỗ sung thứ nhất nay, các nhà làm luật đã khắc phục thiếu sót của điều luật cũ thông qua bé sung thêm quy định trong trường hợp người phạm tội phạm xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của nhiều người trở lên và khung hình phạt tương ứng với tính chất nghiêm trong nay.
Nhưng Điều luật vẫn chứa những bat cập trong quá trình đưa vào áp dụng thực tiễn khi chưa có quy định cụ thê khi nào được áp dụng khung hình phạt “giết nhiều người”. Chỉ đến khi BLHS 2015 ra đời đã có những quy định mới, sửa đổi những thiếu sót của BLHS 1999 đối với Tội giết người do vượt quá giới hạn PVCD tại Điều 126: “J. Người nào giết người trong trường hợp vượt qua giới han phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức can thiết khi bat II giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
” Điều luật đã khắc phục được thiếu sót còn tồn tại của Bộ luật trước, đưa ra quy định về dấu hiệu định tội danh, điều kiện đưa ra quyết định hình phạt đối với khung hình phạt mức cao nhất của tội phạm được áp dụng khi người phạm tội thực hiện tội phạm đối với 02 người trở lên. Có thể thấy dù qua bất cứ thời kỳ nào của lịch sử, tính cấp thiết về việc quy định pháp luật hình sự nói chung hay pháp luật hình sự nói riêng về Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chưa bao giờ là thiếu và quy định này luôn cần có sự hoàn thiện dé đáp ứng nhu cầu áp dụng vào thực tiễn xét xử các vụ án về tội phạm có tính chất phức tạp, bảo đảm quyền và lợi ích về tính mạng, sức khoẻ và tài sản cho mọi cá nhân và công dân trong toàn xã hội.2 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý và đường lối xử lý đối với Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 1.1 Khái niệm Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được coi là trường hợp được tách ra thành tội phạm riêng trong các tội phạm về giết người, dé hiểu rõ hơn thế nào là Tội giết người vượt quá giới hạn phòng vệ chính dang, thì trước hết cần tìm hiểu về khái niệm và các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội giết người. Đối với khái niệm của tội giết người hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này như: “Tội giết người là hành vi cô ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác” [11]; hay Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác”[12]. Dựa theo các cách định nghĩa trên đêu không có sự đê cập đên dâu hiệu 12 năng lực TNHS và độ tuổi chịu TNHS của chủ thể hoặc có nhắc đến dấu hiệu năng lực TNHS nhưng lại không nhắc đến độ tuổi chịu TNHS.
Cùng với đó, việc sử dụng cụm từ “cố ý tước đoạt tính mạng” chưa chính xác và không đúng theo nghĩa tiếng Việt vì hành vi tước đoạt đã bao hàm hành vi sự cố ý tước đoạt tính mạng. Bên cạnh những quan điểm đó, theo TS. Đỗ Đức Hồng Hà Tội giết người được hiểu “là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện” [2]. Từ các quan điểm trên có thể thấy, Tội giết người là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và được quy định cụ thể trong BLHS do chủ thể có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến tính mạng của người khác.
Tội phạm này có thê gây ra cái chết hoặc chấm dứt sự sống của người khác, được thé hiện bằng hành động hoặc thể hiện dưới dạng không hành động, và tương tự như vậy những hành vi không tước đoạt tính mạng của người khác thì không thê coi đó là hành vi khách quan của tội giết người. Hậu quả của hành vi trái pháp luật là chết người, tội phạm được coi là hoàn thành khi có hậu qua chết người xảy ra. Trường hợp hậu quả chết người chưa xảy ra do nguyên nhân khách quan thì hành vi đó được coi là phạm tội chưa đạt do lỗi cô ý trực tiếp hoặc là tội cố ý gây thương tích do lỗi cố ý gián tiếp. Dấu hiệu cau thành tội phạm giết người không phải dựa trên mục dich và động cơ phạm tội của hành vi mà dựa trên hành vi lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp; hậu quả của hanh vi phạm tội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác và hậu quả gây chết người xảy ra.
Dé hiểu rõ khái niệm Tội giết người vượt quá giới hạn PVCD, trước hết không chỉ hiểu được khái niệm và dấu hiệu của tội giết người mà còn phải hiểu rõ thé nào là phòng vệ chính đáng và thé nao là vượt quá giới han PVCD.