MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của dé tài: Đồng phạm là một chế định quan trọng của Luật hình sự. Trước năm 1985, chế định đồng phạm được quy định rải rác trong một số văn bản đơn lẻ khác nhau của nhà nước. Từ khi pháp điển hóa lần thứ nhất luật hình sự nước ta với sự xuất hiện của Bộ luật hình sự năm 1985, các chế định của luật hình sự nói chung, chế định đồng phạm trong luật hình sự nói riêng đã được nâng lên đáng kể về mặt lập pháp và đạt được những thành tựu đáng kể.
Sau một thời gian thi hành, Bộ luật hình sự năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, không đáp ứng được với yêu cầu của lý luận và thực tiễn. Do vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời. Với lần pháp điển hoá thứ hai luật hình sự nước ta, Bộ luật hình sự hiện hành đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định đối với các chế định, trong đó có chế định đồng phạm. Tuy nhiên, vấn đề các hình thức đồng phạm thì không có sự thay đổi so với lần pháp điển hóa thứ nhất.
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam - tại Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1985 cũng như Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 đều đưa ra hai hình thức đồng phạm: đồng phạm đơn giản và phạm tội có tổ chức - một hình thức đồng phạm đặc biệt. Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng như trong thực tiễn xét xử nước ta, không phải chỉ có hai hình thức đồng phạm như trong Luật quy định mà còn có cả hình thức đồng phạm khác - đồng phạm phức tạp. Do trong pháp luật thực định chỉ quy định hai trường hợp đồng phạm, và không có định nghĩa rõ ràng, chính xác đối với từng loại đồng phạm nên khi áp dụng vào thực tế, giữa các nhà áp dụng pháp luật có nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất. Ví dụ như trường hợp đồng phạm đơn giản lại cho là đồng phạm phức tạp, đồng phạm phức tạp lại cho là đồng phạm đơn giản; tượng tự, đồng phạm phức tạp lại cho là đồng phạm đặc biệt - phạm tội có tổ chức, hoặc ngược lại đồng phạm đặc biệt lại cho là đồng phạm phức tạp; thậm chí có trường hợp một vụ án đồng phạm mà có ba quan điểm, mỗi quan điểm lại cho là một hình thức đồng phạm khác nhau: hoặc là đồng phạm đơn giản, hoặc là đồng phạm phức tạp, hoặc là đồng phạm đặc biệt - phạm tội có tổ chức.
Không chỉ là việc xác định không chính xác các hình thức đồng phạm mà quan trọng hơn - hậu quả của việc xác định từng hình thức đồng phạm là khác nhau, dẫn đến việc xác định không chính xác về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đã thực hiện của những người đồng phạm, cũng như việc quyết định trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với họ. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người phạm tội và nó cũng không bảo đảm được nguyên tắc công bằng trong luật hình sự. Mặt khác, từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực cho đến nay, chưa có một văn bản hướng dẫn nào liên quan đến chế định về các hình thức đồng phạm. Trong thực tiễn xét xử hình sự ở nước ta hiện nay, về hình thức đồng phạm đặc biệt - phạm tội có tổ chức, các nhà hoạt động áp dụng pháp luật vẫn phải sử dụng văn bản hướng dẫn của Bộ luật hình sự năm 1985 - Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02 - HDTP ngày 5/1/1986 trong đó có hướng dẫn như thế nào thì coi là phạm tội có tổ chức và có nêu ra ba dạng thể hiện của hình thức đồng phạm đặc biệt này.
Như vậy rõ ràng là bất hợp lý khi Bộ luật hình sự năm 1999 đã thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng văn bản hướng dẫn về hình thức đồng phạm đặc biệt - phạm tội có tổ chức của Bộ luật hình sự năm 1999 lại là văn bản hướng dẫn đối với quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 và vẫn được các nhà áp dụng pháp luật áp dụng trong thực tiễn xét Xử nước ta. Xuất phát từ thực trạng pháp luật hình sự hiện hành, cũng như sự khác nhau, sự chưa thống nhất giữa thực tiễn với quy định của pháp luật trong chế định về các hình thức đồng phạm của Luật hình sự nêu trên, tác giả đã chọn đề tài "Các hình thức đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình với mong muốn đưa ra được những điểm hạn chế của pháp luật hiện hành và một số giải pháp để khắc phục hạn chế đó, đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện pháp luật hình sự hiện nay. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài: al Cơ sở khoa học: - Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lénin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật. - Luận văn dựa trên cơ sở các tư tưởng, quan điểm lý luận trong khoa học luật hình sự Việt nam có liên quan đến chế định đồng phạm - nhất là vấn đề các hình thức đồng phạm trong luật hình sự.
b/ Cơ sở thực tiễn: Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1/7/2000, từ đó đến nay, qua 7 năm thực hiện, nhiều chế định đã bộc lộ những điểm bất cập nhất định. Mot trong những chế định đó là chế định đồng phạm - trong đó có vấn dé các hình thức đồng phạm. Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành chỉ có hai hình thức đồng phạm là đồng phạm đơn giản và đồng phạm đặc biệt - phạm tội có tổ chức. Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn xét xử hình sự nước ta, có ba hình thức đồng phạm: đồng phạm đơn giản, đồng phạm phức tạp, và đồng phạm đặc biệt.
Là một người làm công tác thực tiễn, tác giả thấy rằng, trong thực tiễn xét xử hình sự nước ta, hình thức đồng phạm phức tạp xuất hiện rất nhiều. Việc pháp luật hình sự hiện hành không quy định về hình thức 3 đồng phạm này dẫn đến nhiều khó khăn cho các nhà hoạt động thực tiễn như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong việc áp dụng: nếu cho nó là hình thức đồng phạm đơn giản thì không đúng và cũng không đánh giá hết được tính chất, mức độ nguy hiểm của hình thức đồng phạm trên thực tế; nếu cho là đồng phạm đặc biệt thì lại càng không chính xác bởi về bản chất nó chưa đến mức độ nghiêm trọng như hình thức phạm tội có tổ chức, và quan trọng hơn nó còn ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi thiết thân của những người phạm tội. Đây chính là cơ sở thực tế để tác giả nghiên cứu và chọn dé tài này làm dé tài luận văn của mình. Tình hình nghiên cứu: Ý tưởng chon dé tài trên làm luận văn thạc sỹ của tác giả phần nhiều là xuất phát từ thực tiễn, qua thực tiễn được tiếp xúc, trải nghiệm và gặp phải những khó khăn nhất định trong công tác chuyên môn của bản thân mình khi giải quyết các vụ án có đồng phạm, nhất là việc xác định chúng thuộc loại đồng phạm nào, từ đó để xác định hậu quả pháp lý đối với chúng ra sao,.
Qua sự nghiên cứu, theo dõi của bản thân, học viên thấy rằng, từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực cho đến nay, chưa có văn bản dưới luật nào giải thích, hướng dẫn chi tiết nhằm làm rõ hơn vấn dé về các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vấn dé đồng phạm nói chung được đông đảo các nhà nghiên cứu hình sự quan tâm. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một số công trình nghiên cứu về chế định đồng phạm nói chung (dé cấp đến tất cả các khía cạnh của chế định đồng phạm) như: Luận án tiến sỹ của tác giả Trần Quang Tiệp về “Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2000. Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết, bài nghiên cứu có tính chất riêng lẻ, dé cập đến một khía cạnh, một vấn đề nhất định về các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam.
Ở nước ta trong thời gian 4 qua, một số nhà hình sự học đã nghiên cứu về vấn đề các hình thức đồng phạm, đó là những công trình nghiên cứu của các tác giả như: - Lê Cảm, Về chế định đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Tập san Toà án nhân dân, số 2/1988. - Trần Quang Tiệp, Khái niệm tội phạm có tổ chức. Tạp chí Toà án nhân dân, số 1/1999.
- Trần Quang Tiệp, Tìm hiểu quá trình hình thành khái niệm phạm tội có tổ chức. Tạp chí Công an nhân dân, số 9/1997. - Trần Quang Tiệp, Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tổ chức tội phạm. Tạp chí Toà án nhân dân, số 4/1999.
- Phạm Trường Khanh, Về khái niệm tội phạm có tổ chức. Tạp chí Toà án nhân dân, số 4/1997. - Phạm Hồng Hải, Mấy ý kiến về nhiệm vụ nghiên cứu tội phạm có tổ chức ở nước ta. Tạp chí Trật tự an toàn xã hội - Trường Đại học Cảnh sát, Hà Nội, 1997.
- Phạm Tuấn Bình, Những cơ sở lý luận và thực tiễn để nhận dạng tội phạm có tổ chức. Tạp chí Trật tự an toàn xã hội - Trường Đại học Cảnh sát, Hà Nội, 1997. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo, đồng bộ nào đề cập riêng đến các khía cạnh của vấn đề các hình thức đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, mặc dù đây là vấn đề mang tính lý luận cao, là vấn đề còn đang có sự tranh luận về mặt khoa học cũng như trong thực tiễn áp dụng, còn chưa thống nhất trong cách hiểu, cách áp dụng. Vì vậy, các hình thức đồng phạm vẫn dang là vấn dé cần được tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc hơn trong khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta.
Day cũng là một trong những lý do gây sự chú ý, tao sự quan tâm và là động lực khiến tác giả chọn dé tai này làm luận văn của mình.