Chương I NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG, CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MÔI TRƯỜNG 1. TRANH CHAP MOI TRƯỜNG VÀ NHỮNG BIEU HIỆN CUA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Khái niệm tranh chấp môi trường “Tranh chấp” là hiện tượng xã hội. Sự khác nhau giữa các thành viên trong xã hội về cách nghĩ, cách thể hiện, về nhu cầu cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu.
là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp. Tranh chấp có thể nảy sinh trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Ở cấp độ bộc lộ quan điểm, tranh chấp đơn thuần là sự bàn cãi, tranh luận hay bất đồng ý kiến [67, tr. Ở cấp độ đòi hỏi quyền lợi, tranh chấp là việc giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào [36, tr.
Còn khi đấu tranh để giành phần thắng, tranh chấp là sự chống lại, kháng cự lại đối phương [64, tr. Xét từ góc độ cá nhân, tranh chấp là sự thể hiện mong muốn chủ quan của mỗi người, song nhìn từ phương diện xã hội, tranh chấp lại là hiện tượng mang tính khách quan và là một bộ phận hiển nhiên của quá trình phát triển xã hội, "nó không phải là kết quả của sự sai lầm của con người cũng không phải là sai lầm của hệ thống” [89, tr. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội trở nên sống động và phức tạp hơn, lợi ích cũng đa dạng hơn. Vì vậy tranh chấp càng trở nên phổ biến và gay gắt hơn.
Hiện thực này phản ánh một điều có tính tất yếu là “nếu như chẳng bao giờ có thể giải quyết dứt khoát vấn dé khan hiếm hay bất bình đẳng xã hội thì cũng chẳng có thể đưa xung đột xã hội về một trạng thái đứng yên hoàn toàn” [26, tr. Bảo vệ môi trường là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nét qui luật nêu trên. Sự gia tăng nhu cầu hưởng thụ chất lượng môi trường sống, nhu cầu khai thác các nguồn tài nguyên chống lại những giá trị hữu hạn của chúng là 10 nguyên nhân nội tai gây nên những mâu thuẫn trong lĩnh vực này. Tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (sau đây gọi là rranh chấp môi trường) đang nay sinh ngày càng nhiều.
Ngay từ khi mới xuất hiện, tranh chấp môi trường đã được nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm nghiên cứu, với những tiếp cận ban đầu là xung đột môi trường. Khái niệm xung đột được định nghĩa như là “một hoàn cảnh xã hội trong đó ít nhất có hai bên đấu tranh với nhau trong cùng thời điểm để đạt được một loại nguồn lực hiếm hoi nào đó” [83, tr. Định nghĩa này cũng có thể mang lại những ứng dụng nhất định cho việc nhận dạng xung đột môi trường. Môi trường với các yếu tố cấu thành của nó, theo nhận thức của nhiều người trước đây, là tài nguyên.
Thực tế, nước, không khí, rừng đều có giới hạn và có khi trở thành hiếm hoi ở nơi này hoặc nơi khác. Trong bối cảnh đó, sự đấu tranh lẫn nhau để giành lấy các yếu tố của môi trường, lợi ích của nó dẫn đến xung đội. Từ giác độ xã hội học, xung đột môi trường được hiểu là “xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên môi trường. Nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác, dẫn đến sự đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên” [73].
Từ giác độ môi trường học, xung đột môi trường được nhìn nhận theo hai khía cạnh. Mot !à, xung đột giữa nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội với nhu cầu bảo vệ môi trường sống trong lành của loài người; hai là, xung đột giữa các nhóm cư dân khác nhau trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên và môi trường. Trong đó khía cạnh thứ nhất của xung đột môi trường được các nhà môi trường học minh hoạ bằng sơ đồ sau [8, tr. 3-5]: Sản xuất Cạn kiệt tài nguyên y X61 mòn văn hoá, xã hội |# Xung đột MT —_ =— Khởi kiện, khiếu nại Mac dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song các nha xã hội hoc và môi trường học đều thống nhất một số điểm chung về xung đột môi trường như sau: 7rước hết, xung đột môi trường là một hình thái của xung đột xã hệt, thể hiện đưới các dang: xung đột về nhận thức, xung đột về mục tiêu, xung đột về quyền lực, xung đột về nhu cầu, xung đột giữa các thế hệ, giữa các nhóm xã hội hay các cộng đồng người.
trong việc khai thác, sử dụng va bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường; thit hai, hệ quả tích cực hay tiêu cực mà xung đột môi trường gây ra cho xã hội hoàn toàn phụ thuộc vào quá trình quản lý, kiểm soát hay giải quyết xung đột; /h⁄ ba, xung đột môi trường trở thành tranh chấp môi trường khi đòi hỏi của các bên mang tính pháp lý. Như vậy, xét từ khía cạnh lý luận thì xung đột môi trường là phạm trù có nội hàm rộng hơn tranh chấp môi trường. Trong khoa học pháp lý, tranh chấp môi trường (environmental dispute) là thuật ngữ có nguồn gốc từ thông lệ quốc tế, được hình thành qua thực tiễn xét xử các vụ khiếu kiện quốc tế về môi trường vào đầu thế kỷ XX. Ở phạm vi mỗi quốc gia, tính đến cuối thập kỷ 70, thuật ngữ tranh chấp môi trường đã được sử dụng khá phổ biến tại nhiều nước như Australia, Ấn độ, Hoa Kỳ, Singapore, Canada, Bangladesh, Sri Lanka, Thái Lan, Malayxia, Smgapore-.
Ở các nước này thường xuyên xuất hiện các vụ kiện liên quan đến việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, cũng như các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại về môi trường, thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây nên. Thời kỳ đầu, những vụ án nêu trên được gọi chung là án dân sự và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Sau này người ta nhận thấy khó có thể xử lý các tranh chấp này đơn thuần theo phương pháp dân sự vì hầu hết các vụ kiện có nội dung liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật môi trường, xâm phạm quyền được sống, quyền được hưởng dụng chung các thành phần môi trường của con người. Đồng thời người ta còn nhận thức được rằng các mối quan hệ xung đột nêu trên không chỉ thuần tuý xoay quanh các vấn đề tài sản hay tính mạng, sức khoẻ của 12 từng con người cụ thé mà sâu xa hơn đó chính !à xung đột giữa bảo tổn và phát triển, xung đột giữa lợi ích kinh tế với lợi ích môi trường.
Tên gọi tranh chấp đân sự dường như không phản ánh đúng bản chất của những mối bất hoà trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cũng như thủ tục tố tụng dân sự không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà việc giải quyết loại tranh chấp này đặt ra. Ý tưởng về một tên gọi mới cùng với các nguyên tắc và cách thức giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng được hình thành từ đây. “Những vấn đề môi trường đã thúc ép các thẩm phán làm việc hết sức mình, không chỉ bởi vì tính mới lạ, mà còn bởi tính cấp bách và ảnh hưởng sâu rộng của chúng. Khi đã thất bại trong tất cả các phương thức khác, các nạn nhân phải nhờ đến toà án để đòi bồi thường, nhưng các nguyên tắc pháp lý mà chúng ta kế thừa từ quá khứ thường không mấy thích hợp, bởi các vấn đề gặp phải đều hoàn toàn mới” [16, tr.
Như vậy, có thể hình dung thuật ngữ tranh chấp môi trường xuất hiện phổ biến tại các quốc gia có quan hệ pháp luật môi trường hình thành và phát triển sớm. Sự tách biệt tên gọi tranh chấp môi trường nói riêng, quan hệ pháp luật môi trường nói chung ra khỏi các quan hệ dân luật cũng là điều dé lí giải và hợp quy luật vận động của xã hội. Lịch sử đã từng trải qua những giai đoạn mà dân luật điều chỉnh gần như hầu hết các lĩnh vực có liên quan đến con người như: quan hệ tài sản, quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ lao động, quan hệ thương mại. Về sau, do sự phát triển của xã hội mà các quan hệ nói trên đã dần tách ra và tồn tại một cách độc lập, song song với quan hệ có tính "gốc rễ" nay.
Ngày nay, các quy định pháp luật về tranh chấp môi trường, giải quyết tranh chấp môi trường đã được nhiều nước ban hành, song từ phương điện lý luận thì vẫn có sự khác nhau nhất định giữa các hệ thống pháp luật trong cách tiếp cận hiện tượng xã hội này. Một số nước theo hệ thống luật dân su (civil law system) như Pháp, Đức, Nhật. tiếp cận tranh chấp môi trường theo hướng định tính hoá [78]; [80]. Theo cách này người ta không chỉ rõ các dạng cụ thé của tranh chấp mà 13 dựa vào tiêu chí chủ thé tham gia tranh chấp, yếu tố tai san (hang hoá - tiền tệ) trong các quan hệ xung đột để xác định tính chất dân sự hay “phi dân sự” của tranh chấp môi trường, lấy đó làm căn cứ cho việc áp dụng các thủ tục tố tụng tương ứng để giải quyết tranh chấp.
Chang hạn, thủ tục tố tụng dân sự sẽ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp giữa các cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức hay giữa các tổ chức với nhau nảy sinh từ việc đòi khôi phục các quyền và lợi ích về tài sản bị xâm hại do làm ô nhiễm môi trường gây nên, còn thủ tục tố tụng hành chính sẽ được áp dụng đối với các tranh chấp nảy sinh từ hoạt động quản lý hành chính về môi trường hoặc các tranh chấp đòi phục hồi trật tự công cộng trong lĩnh vực môi trường. Theo chúng tôi, cách tiếp cận này thường chỉ phù hợp với những quan hệ xung đột có tính chất thuần tuý dân sự hoặc hành chính, cũng như chỉ phù hợp với những xung đột hoặc là lợi ích tư hoặc là lợi ích công. Còn đối với các quan hệ xung đột có biểu hiện phức tạp về tính chất, đa dạng về chủ thể, khác biệt về cơ sở phát sinh như trong lĩnh vực môi trường (sẽ được phân tích sau đây) thì cách tiếp cận này sẽ vấp phải những trở ngai đáng kể.