GIÁO TRÌNH LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM PHAN CÁC TOI PHAM Quyén 2 258-2021/CXBIPH/70-03/CAND TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Giáo trình LUAT HÌNH SU VIET NAM PHAN CAC TOI PHAM Quyền 2 (In lan thứ 22 có sửa đổi, bồ sung) NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN HÀ NỘI - 2021 Chủ biên GS. NGUYÊN NGỌC HOÀ Tập thể tác giả GS. LÊ THỊ SƠN Chương VIII GS. NGUYÊN NGỌC HOÀ Chương IX, XII TS.
NGUYEN VAN HUONG Chuong X TS. HOANG VAN HUNG Chuong XI PGS. TRAN VAN DO Chuong XIII TS. ĐÀO LE THU Chuong XIV LỜI NÓI ĐẦU Giáo trình luật hình sự Việt Nam (toàn tap) được biên soạn lan dau năm 2000 trên cơ sở kế thừa, phát triển các giáo trình luật hình sự cua Nhà trường được ấn hành từ năm 1992 do GS.
Nguyễn Ngoc Hoà làm chủ biên. Giáo trình này đã được in lại nhiều lan. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XIII, kì họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015, được sửa đổi, bồ sung năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Trước tình hình đó, tập thể tác giả đã tổng rà soát lại toàn bộ Giáo trình về nội dung khoa học cũng như về hình thức thể hiện.
Trên cơ sở rà soát này, các tác giả đã chỉnh li, bố sung và hoàn thiện Giáo trình luật hình sự Việt Nam cho phù họp với nội dung cua Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, kịp thời phục vụ nhu cẩu học tập, nghiên cứu, giảng dạy của giảng viên, sinh viên và các đối tượng khác. Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội được tái bản có chỉnh lí lần này gom 3 quyển: 1 quyển về Phan chung và 2 quyền về Phan các tội phạm. Các chương của Giáo trình về cơ bản van giữ kết cấu như các lan in trước đây, cụ thể: - Về nội dung, ở các chương về Phan chung, Giáo trình được kết cấu theo các vấn đề và ở các chương về Phần các tội phạm, Giáo trình được kết cấu theo nhóm các lội phạm (các chương trong Phân các tội phạm của BLHS). - Về sự giải thích, Giáo trình đảm bảo kết hợp giữa tính khoa học với tính có căn cứ theo luật định.
Tuy nhiên, với yêu cẩu của chương trình đào tạo luật ở bậc đại học, sự giải thích trong Giáo trình cũng có mức độ nhất định; mặt khác, nhiễu vấn đề trong Bộ luật can phải được sự giải thích chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyên. - Về cách trình bày, các tác giả lưu ý bạn đọc về các định nghĩa khái niệm dưới hình thức in nghiêng. Các chữ viết tat, các thuật ngữ được sử dụng thống nhất ở tất cả các chương, mục của Giáo trình. Với sự tham gia biên soạn của các giảng viên có kinh nghiệm, hi vọng rằng Giáo trình này sẽ đáp ứng được sự mong đợi của bạn đọc.
Trường Đại học Luật Hà Nội xin tran trọng giới thiệu Giáo trình luật hình sự Việt Nam và rất mong nhận được những ý kiến góp ÿ, phê bình của ban đọc để Giáo trình này ngày càng hoàn thiện. TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BANG TỪ VIET TAT BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CAND Công an nhân dân CTTP Cấu thành tội phạm QHNQ Quan hệ nhân quả TANDTC _ Toà án nhân dân tối cao TNHS Trach nhiệm hình sự XHCN Xã hội chủ nghĩa CHƯƠNG VIII CAC TOI PHAM VE MA TUY I. NHUNG VAN DE CHUNG BLHS năm 1985, sau ba lần sửa đổi, bố sung (12/1989, 8/1991 và 12/1992) đã có hai điều luật quy định các tội phạm về ma tuý. Đó là Điều 96a quy định tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyên trái phép các chất ma tuý và Điều 203 quy định tội tổ chức dùng chất ma tuý.
Trong lần sửa đổi, b6 sung lan thứ tư (5/1997), Bộ luật này đã được bồ sung một chương quy định các tội phạm về ma tuý để thay thế cho Điều 96a và Điều 203. Đó là Chương VIIA trong Phần các tội phạm của BLHS. Chương này gồm 14 điều, quy định 13 tội danh. Trong BLHS năm 1999, các tội phạm về ma tuý được quy định tại Chương XVIII.
Khi ban hành, Bộ luật có 10 điều luật (từ Điều 192 đến Điều 201) quy định về 10 tội danh khác nhau. Sau khi được sửa đổi, b6 sung (6/2009), Bộ luật còn 9 điều luật, quy định 9 tội danh (Điều 199 quy định “Tội sử dụng trái phép chất ma tuý” đã được bãi bỏ). BLHS năm 2015 vẫn tiếp tục dành một chương quy định (1). Xem thêm: Lê Thị Sơn, “Các tội phạm về ma tuý - So sánh giữa Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999”, Tap chí luật học, sô 3/2000.
các tội phạm về ma tuý. Đó là Chương XX: “Các tội phạm về ma tuý”, bao gồm 13 điều luật (từ Điều 247 đến Điều 259) quy định 13 tội danh tương ứng với 9 tội danh được quy định trong BLHS năm 1999. Trong đó, “tội tàng trữ, vận chuyền, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý” (Điều 194 BLHS năm 1999) được tách thành bốn tội danh (Điều 249 đến Điều 252 BLHS năm 2015); “tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý” (Điều 200 BLHS năm 1999) được tách thành hai tội danh (Điều 257 và Điều 258 BLHS năm 2015). Với việc tách tội danh như vậy, BLHS năm 2015 có điều kiện mô tả cụ thé hơn các hành vi phạm tội, thể hiện rõ hơn sự phân hoá TNHS cũng như giảm bớt số tội phạm về ma tuý có hình phạt tử hình được quy định.
Theo BLHS năm 1999, hình phạt tử hình được quy định đối với bốn loại hành vi phạm tội (Điều 194), còn theo BLHS năm 2015, hình phạt tử hình chỉ được quy định đối với hai loại hành vi phạm tội tương ứng với hai tội danh là tội vận chuyền trái phép chất ma tuý (Điều 250) và tội mua bán trái phép chất ma tuý (Điều 251). 13 tội danh thuộc các tội phạm về ma tuý theo BLHS năm 2015 là: - Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý (Điều 247); - Tội sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 248); - Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (Điều 249); - Tội vận chuyên trái phép chất ma tuý (Điều 250); - Tội mua bán trái phép chất ma tuý (Điều 251); 10 - Tội chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 252); - Tội tàng trữ, vận chuyên, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 253); - Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyên hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 254); - Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 255); - Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 256); - Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 257); - Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 258); - Tội vi phạm quy định về quản lí chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần (Điều 259). Khái niệm các tội phạm về ma tuý Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lí chất ma tuý là loại chất gây nghiện nguy hiểm với những quy định rất nghiêm ngặt. Vi phạm các quy định về chế độ quản lí các chất ma tuý không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma tuý của Nha nước mà còn gop phan tạo ra lớp người nghiện, qua đó de dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Do tác hại lâu dài và nhiều mặt của các hành vi vi phạm các quy định về chế độ quản lí chất ma tuý như vậy nên mọi 11 hành vi vi phạm, ở bất kì khâu nào của quá trình quản lí chất ma tuý đều bị quy định là tội phạm. Từ các quy định của Chương XX có thể định nghĩa: Các tội phạm về ma tuý là hành vi cô ý xâm phạm chế độ quản lí các chất ma tuý của Nhà nước. Khách thể của tội phạm Khách thể của các tội phạm về ma tuý là chế độ quản lí các chất ma tuý của Nhà nước ở tất cả các khâu của quá trình quản lí. Các tội phạm này có đối tượng là các chất ma tuý (theo nghĩa rộng) và các vật dụng phục vụ sản xuất và sử dụng chất ma tuý.
* Các chất ma tuý Các chất ma tuý (theo nghĩa rộng) là đối tượng của các tội phạm về ma tuý, bao gồm chất ma tuý theo nghĩa hẹp là chất gây nghiện và chất hướng than; tiền chất;” thuốc gây nghiện, thuốc hướng than;® cây có chứa chất ma tuý. “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thân được quy định trong các danh mục do Chính phú ban hành ”. “Chất gáy nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thân kinh, dé gây tình trạng nghiện đối với người sử dung”. “Chat huong than là chất kích thích, ức chế than kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lan có thé dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng” (các khoản 1, 2, 3 Điều 2 Luật phòng, chống ma tuý năm 2000, được sửa đôi, bồ sung năm 2008).
“Tiên chất là các loại hoá chất không thé thiếu được trong quá tình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong danh mục do chính phủ ban hành” (Khoản 4 Điều 2 Luật phòng, chống ma tuý năm 2000, được sửa đổi bổ sung năm 2008). Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ y tế ban hành, có chứa chất gây nghiện, chất 12 vậy, các chất ma tuý (theo nghĩa rộng) là đối tượng của các tội phạm về ma tuý có thể được chia thành hai nhóm: Thi? nhất là các chất ma tuý (chất gây nghiện, chất hướng thần) và các đối tượng có chứa chất ma tuý (thuốc chữa bệnh và cây có chứa chất ma tuý); thir hai là các tiền chất (các hoá chất dùng dé điều chế, sản xuất chất ma tuý). Ở Việt Nam, việc xác định các chất ma tuý (theo nghĩa hẹp) và các tiền chất được thực hiện theo quy định hiện hành về danh mục chất ma tuý và tiền chất do Chính phủ ban hanh.