GIÁO TRÌNH LUAT DAN SỰ VIỆT NAM TAP II 1254-2019/CXBIPH/12-12/CAND TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI GIÁO TRÌNH LUAT DAN SỰ VIỆT NAM TAP II (Tái ban) NHA XUAT BAN CONG AN NHAN DAN HA NOI - 2019 Chủ biên PGS. ĐINH VĂN THANH TS. NGUYÊN MINH TUẦN Tập thé tác giả PGS. TRAN THỊ HUE Chương VII (mục N) TS.
LÊ ĐÌNH NGHỊ Chương X TS. PHAM CÔNG LẠC PGS. PHÙNG TRUNG TAP Chương VII, VIII, IX TS. NGUYEN MINH TUAN PGS.
PHAM VAN TUYET Chuong VI CHƯƠNG VI NGHĨA VỤ VÀ HỢP ĐÒNG DÂN SỰ A. LÝ LUẬN CƠ BẢN VE NGHĨA VỤ 1. Khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ 1. Khái niệm nghĩa vụ Nghĩa vụ, theo nghĩa chung nhất là việc mà theo quy định của pháp luật hay vì đạo đức mà bắt buộc phải làm hoặc không được làm đối với xã hội, đối với người khác.
Theo cách hiểu này thì nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên kia. Việc một bên phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhất định có thể không được đặt dưới sự bảo đảm của nhà nước băng pháp luật, pháp luật không buộc người đó phải thực hiện, họ thực hiện công việc đó hoàn toàn theo lương tâm và vì uy tín của mình. Ở phương diện này, nghĩa vụ được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức và thuộc về nghia vụ đạo đức. Chăng hạn, giúp người già qua đường, giúp đỡ người tàn tật, nhường chỗ cho người già, phụ nữ trên xe buýt.
là những công việc phải làm vì đạo đức. Những công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy định của pháp luật là nghia vụ pháp luật nói chung. Trong đó, các công việc phải làm hoặc không được phép làm theo quy định của pháp luật dân sự là nghia vu dan sự. Nghĩa vụ có thể được hiểu là một bộ phận không tách rời trong nội dung của một quan hệ pháp luật dân sự.
Bao gồm những hành vi mà một bên chủ thê phải thực hiện vì lợi ích của chủ thé bên kia như chuyền giao tai sản, thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc đã được các bên tham gia quan hệ đó hoặc pháp luật xác định v. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện các nghĩa vụ trước quyền yêu cầu của phía bên kia. Mặt khác, nghĩa vụ còn được hiểu là một quan hệ pháp luật, trong đó quyền dân sự và các nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thê phát sinh từ quan hệ đó phải được thực hiện dưới sự đảm bảo của pháp luật. Các BLDS của Việt Nam thời Pháp thuộc (Bộ dân luật Bắc kì năm 1931 và Bộ dân luật Trung kì năm 1936) đã có những định nghĩa về nghĩa vụ dân sự: "Nghia vụ dan sự là moi liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người nào do.
Người bị bó buộc vào nghĩa vụ gọi là người mắc nợ, người được hưởng nghĩa vụ gọi là người chủ nợ". "Nghia vụ là cái dáy liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên bó buộc một hay nhiễu người phải làm hay đừng làm sự gi đối với một hay nhiễu người nào đó, người bị bó buộc là người mắc nợ hay trái hộ, người được hưởng là chủ nợ hay (1).Xem: Điều 644 Bộ luật dân luật Bắc kì năm 1931. "Nghĩa vụ về luật thiên nhiên thì không thé tô tung trước tòa án được".® "Nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên là nghĩa vụ không thể cưỡng bách thi hành".®) Theo quy định trong hai Bộ dân luật nói trên thì ngoài nghĩa vụ thuộc vê luật thực tại còn bao gôm nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên. Thực ra, nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên chỉ được đưa vào khái niệm cho hợp với truyền thông và phong tục của người A Đông mà hoàn toàn không có sự cưỡng chê của pháp luật.
Vì vậy, dù đã được quy định trong Bộ luật nhưng nghĩa vụ thuộc về luật thiên nhiên (nghĩa vụ tự nhiên) vẫn chỉ là nghĩa vụ luân lí. Nghĩa vụ được định nghĩa tại Điều 274 BLDS năm 2015 như sau: "Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau day goi chung la bén co nghia vu) phai chuyén giao vat, chuyển giao quyên, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiễu chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyên). Đặc điểm của nghĩa vụ Nếu nhìn nhận nghĩa vụ ở trạng thái là một quan hệ pháp luật dân sự thì so với các quan hệ pháp luật dân sự khác, quan hệ nghĩa vụ có một sô đặc điêm sau đây: Thứ nhất, nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý giữa ít nhất là hai người đứng về hai phía chủ thê khác nhau.Xem: Điều 675 Bộ dân luật Trung kì nam1936.Xem: Điệu 642 Bộ dân luật Bac kì năm 1931.Xem: Điêu 677 Bộ dân luật Trung ki năm 1936. Dù được hình thành theo thoả thuận hay theo luật định thì nghĩa vụ luôn là sự ràng buộc giữa các bên về việc phải làm hay không được làm một việc nhất định.
Bên phải làm một công việc nếu không làm sẽ phải gánh chịu chế tài của luật. Tuy từng trường hợp, mỗi bên trong nghĩa vụ có thé có nhiều người hoặc nhiều chủ thé khác tham gia nhưng cũng có thé mỗi một bên chỉ có một người tham gia. Thứ hai, quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thê đối lập nhau một cách tương ứng và chỉ có hiệu lực trong phạm vi giữa các chủ thể đã được xác định. Nghĩa vụ và quyền luôn đi đôi với nhau, nói đến quyền là nói đến nghĩa vụ.
Tuy nhiên, nói đến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ là nói đến sự đối lập, tính tương ứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Nói một cách cụ thể hơn, quyên của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Bên này có bao nhiêu quyền với phạm vi bao nhiêu thì bên kia sẽ có bấy nhiêu nghĩa vụ với phạm vi tương ứng. Mặt khác, trong quan hệ nghĩa vụ, cả chủ thể mang quyền, cả chủ thể mang nghĩa vụ luôn luôn được xác định một cách cu thé nên quyên của bên này chỉ là nghĩa vụ của bên kia.
Nói cách khác, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ này không liên quan đến người khác ngoài các chủ thé đã được xác định cụ thể. Trong một số trường hợp, quyền và nghĩa vụ của các chủ thé trong quan hệ này có thé liên quan đến người thứ ba nhưng người thứ ba đó phải là người đã được xác định cụ thê trước. Vi du, trong quan hệ cho vay, bên có quyền đòi nợ là người đã cho vay, bên có nghĩa vụ trả nợ là người vay nhưng cũng có thể người phải trả khoản nợ đó lại là người thứ ba (là người bảo lãnh đã được các bên xác định trước). Chính từ đặc điểm nay mà quan hệ pháp luật về nghĩa vụ được coi là loại quan hệ pháp luật tương đối.
Đồng thời cũng qua đặc điểm này, chúng ta thấy răng quan hệ pháp luật về nghĩa vụ hoàn toàn khác với quan hệ pháp luật về sở hữu. Trong quyền sở hữu, chỉ có chủ thể mang quyền là được xác định cụ thé nên tất cả các chủ thé khác đều phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền dân sự của chủ thể mang quyền đó. Chủ sở hữu tự thực hiện các quyền đối với tài sản dé đáp ứng các nhu cầu của minh, vì vậy quyền dan sự trong quan hệ pháp luật về sở hữu là quyền tuyệt đối. Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyền nên quyền của các bên chủ thể là quyền đối nhân.
Nếu trong quan hệ sở hữu, quyền của chủ thể mang quyền được thực hiện băng hành vi của chính họ thì trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyền của bên này lại được thực hiện thông qua hành vi của chủ thé phía bên kia. Nói cách khác, quyền của bên này chỉ được đáp ứng khi bên kia đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ. Mặt khác, nếu việc thực hiện quyền trong quan hệ sở hữu là việc tác động trực tiếp đến vật thì trong nghĩa vụ dân sự người mang quyền dân sự không được tác động trực tiếp đến tài sản của người mang nghĩa vụ. Khi người mang nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền chỉ có thể sử dụng các phương thức mà pháp luật đã quy định để tác động và yêu cầu người đó phải thực hiện nghĩa vụ cho mình.
Nói cách khác, trong nghĩa vụ, quyền của người này là đối với người có nghĩa vụ bên kia chứ không đối VỚI tài sản của họ. Các yếu tố của quan hệ nghĩa vụ 2. Chủ thể của nghĩa vụ Chủ thé của quan hệ pháp luật nói chung là những người tham gia quan hệ pháp luật đó. Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ là những người tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các chủ thé này có những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ mà họ tham gia. Các chủ thê này khi tham gia. một quan hệ nghĩa vụ sẽ thiết lập mối liên hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. Trong đó, một bên được gọi là người có quyên, một bên được gọi là người có nghĩa vụ.
- Bên có quyên: Là một bên trong quan hệ nghĩa vụ được pháp luật bảo đảm quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của mình. - Bên có nghĩa vụ: Là một bên trong quan hệ nghĩa vụ buộc phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên có quyền. Tuỳ theo tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà có những quan hệ nghĩa vụ trong đó một bên chỉ có quyền yêu cầu nhưng không phải gánh vác nghĩa vụ, còn một bên có nghĩa vụ thực hiện cho bên kia công việc nhất định mà không có quyền yêu cầu. Những quan hệ nghĩa vụ ở dạng này được gọi là quan hệ đơn vụ.
Mặt khác, trong phần lớn các quan hệ nghĩa vụ thì mỗi bên chủ thê tham gia đều có quyên yêu cầu bên kia thực hiện những hành vi nhất định nhăm đem lại lợi ich cho mình.