GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TAP II Giáo trình này đã được Hội đồng nghiệm thu giáotrình Trường Dai học Luật Hà Nội (thành lập theo Quyết định số 1281/0D-PHLHN ngày 05 tháng 5 năm 2016 của Hiệu trưởng Trường Dai học Luật Ha Noi) dong ý thông qua ngày 29 tháng 7 năm 2016 và được Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội cho phép xuất bản theo Quyết định số 249/QĐ-ĐHLHN ngày 15 tháng 02 năm 2017. MÃ SỐ: TPG/K - 19 - 14 3232-2019/CXBIPH/02-308/TP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NOI GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TAP II (Tái ban lan thứ hai, có sửa đôi, bô sung) NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP HÀ NOI - 2019 Đồng chủ biên PGS. NGUYEN VIET TY TS. NGUYEN THI DUNG Tap thé tac gia 1.
NGUYEN THI VAN ANH Chương 16 2. VU THI LAN ANH Chuong 21 3. TRAN THI BAO ANH Chuong 15, 20 4. NGUYEN THI DUNG Chuong 17 5.
VU PHƯƠNG ĐÔNG Chương 18 6. TRAN THỊ THU PHƯƠNG Chương 14 (Mục IID) 7. NGUYEN VIET TY Chương 14 (mục I, II) 8. NGUYÊN QUÝ TRONG Chương 22 9.
VŨ ĐẶNG HẢI YÊN Chương 19 10. NGUYÊN THỊ YÊN Chương 23 DANH MỤC CHỮ VIET TAT BLDS Bo luat Dan su LTM Luat Thuong mai TNHH Trach nhiệm hữu han TTTM Trong tai thuong mai LỜI GIỚI THIỆU Trong quá trình đối mới quản li nhà nước về kinh tế, Luật Thương mại là lĩnh vực pháp luật có những thay đổi lớn theo xu thé mở rộng quyên tự do kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế. Bắt nhịp với những thay đổi này, trong các cơ sở đào tạo luật, môn học Luật Thương mại (tiền thân là môn học Luật Kinh tê) cũng có nhiều thay đổi về kết cầu và nội dung chương trình. Nhằm hướng tới mục tiêu phù hop xu hướng phát triển về lí luận và thực tiễn của pháp luật thương mại, phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo của nhà trường, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã được biên soạn mdi.
Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam là học liệu chính thức sử đụng trong giảng dạy, học tập môn học Luật Thương mại và một số chuyên dé tự chọn thuộc chương trình đào tạo cứ nhán luật, cw nhân chuyên ngành luật kinh tế, luật thương mại quốc tế và các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Đối với các cơ sở đào tạo khác, Giáo trình Luật Tihương mại cũng có thể được sử dụng làm học liệu cho các môn học có nội dụng tương tự như Luật Kinh tế, Luật Kinh doanh. Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam gôm 2 tập với tổng số 23 chương, được kết cấu theo 5 phan lớn, đáp ứng nhu cau nghiên cứu, đào tạo cơ bản về địa vị pháp lí cua các loại hình doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường, về hợp đồng và hoạt động thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Toà án: Phan thứ nhất: Những van dé chung về Luật Thương mại Việt Nam. Phan thứ hai: Địa vị pháp lí của các chủ thé kinh doanh trong nên kinh tế.
Phan thứ ba: Quy chế pháp lí về thành lập doanh nghiệp, tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Phân thứ tư: Hoạt động thương mại và hợp đồng trong hoạt động thương mại. Phan thứ năm: Giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Toà án. Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tap I có 13 chương, cung cấp những kiến thức chung về môn học Luật Tìhương mại, về địa vị pháp lí của các loại chủ thể kinh doanh và quy chế pháp lí về thành lập, tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam Tập II có 10 chương, cung cấp những kiến thức lí luận và thực tiễn về hop đồng và hoạt động thương mại, chế tài thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại ngoài Toà án. Tập I và Tập II bao gồm nội dung cơ bản và nội dung chọn lọc để phù hop với kết cau chương trình đào tạo của mỗi ngành học đang áp dụng tại Trường Đại học Luật Hà Nội, bao gom nganh Luật học, ngành Luật Kinh tế và ngành Luật Thương mại quốc tế. Được hoàn thành có sự kế thừa các giáo trình đã xuất bản, tập thể tác giả đã tiếp tục phát triển kiến thức về li luận, thực tiễn, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đào tao cử nhân luật theo học chế tin chỉ. Trong lan tái bản này, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để Giáo trình được tiếp tục hoàn chỉnh trong những lần xuất bản sau.
Tran trọng cam ơn! Hà Nội, tháng 9 năm 2019 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Phần thứ tư HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ HỢP DONG TRONG HOAT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Chương 14 NHỮNG VAN DE CHUNG VE HỢP DONG TRONG LINH VUC THUONG MAI I. QUAN NIEM VE HGP DONG TRONG LINH VUC THUONG MAI Hợp đồng là hình thức pháp lí thích hợp nhất thé hiện ban chất của các quan hệ tài sản. Quan hệ kinh tế và quan hệ dân sự có chung hình thức pháp lí là hợp đồng. Hợp đồng dù thể hiện dưới hình thức nào, bởi ngôn ngữ nào cũng phản ánh bản chất là sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi và cham dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lí.
Ở Việt Nam, trong mỗi thời kì lịch sử khác nhau, hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế hay lĩnh vực thương mại có một bản chất pháp lí riêng của nó. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hợp đồng kinh tế có bản chất pháp lí hoàn toàn khác hợp đồng dân sự (theo nghĩa truyền thống) về mục đích, về chủ thé, về hình thức cũng như về nội dung của hợp đồng. Trong thời kì này, ở Việt Nam hầu như chỉ tồn tại hợp đồng kinh tế với tư cách là hình thức phản ánh quan hệ kinh tế trong nền kinh tế. Các văn bản đầu tiên về hợp đồng kinh tế là Nghị định số 004/TTg ngày 04/01/1960 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế giữa các xí nghiệp quốc doanh và cơ quan nhà nước, Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế và đặc biệt là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế được ban hành năm 1989.
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã phản ánh đầy đủ bản chất của hợp đồng kinh tế, đồng thời quy định cụ thể về thủ tục kí kết, thực hiện thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ, thanh lí hợp đồng kinh tế. Ngoài ra, trong Pháp lệnh này còn quy định một số nội dung khác về hợp đồng kinh tế như: hợp đồng kinh tế vô hiệu, trách nhiệm vật chất do vi phạm chế độ hợp đồng kinh tế. Trong những năm từ 1986 đến 1990, cùng với việc đôi mới cơ chế quản lí kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các hợp đồng dân sự (đúng theo nghĩa truyền thống). Dé điều chỉnh quan hệ hợp đồng dân sự, năm 1991, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng dân sự và sau đó là BLDS năm 1995.
Bộ luật này đã xác định khái niệm hợp đồng dân sự (xem Điều 394 BLDS năm 1995) với một nội hàm tương đối rộng, bao gồm cả những đặc điểm của khái niệm hợp đồng kinh tế theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989. Tuy nhiên, trong Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành BLDS năm 1995 vẫn thừa nhận hiệu lực của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989. Do đó, từ năm 1991 đến khi BLDS năm 2005 có hiệu lực, ở Việt Nam vẫn tồn tại 2 loại hợp đồng - hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự - được điều chỉnh băng những quy định pháp luật khác nhau về hợp đồng. Cụ thê là, hợp đồng dân sự được quy định trong BLDS còn hợp đồng kinh tế lại được quy định trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế.
Chỉ đến khi BLDS năm 2005 và LTM năm 2005 có hiệu lực, hợp đồng (bao gồm hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự) mới được điều chỉnh băng một hệ thống văn bản 10 pháp luật thống nhất về hợp đồng dân sự.' Trong BLDS năm 2005 cũng như LTM năm 2005 và các văn bản pháp luật thương mại sau đó không còn ghi nhận khái niệm hợp đồng kinh tế. Mặc dù, khái niệm hợp đồng kinh tế không còn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành và trên thực tế khái niệm này không còn được sử dụng để chỉ các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại (trước đây gọi là lĩnh vực kinh tế). Nhưng điều đó không có nghĩa là hợp đồng trong lĩnh vực thương mại không còn tồn tại. Bởi lẽ, khi còn các hoạt động trong lĩnh vực thương mại được coi như một loại hành vi dân sự đặc thù thi vẫn có những quy định riêng điều chỉnh các hợp đồng với tư cách là hình thức pháp lí của các hoạt động thương mại.
Xét dưới góc độ biện chứng, hợp đồng dân sự là hình thức pháp lí của hành vi dân sự, hợp đồng trong thương mại là hình thức pháp lí của hoạt động thương mại. Xuất phát từ quan điểm: “Hàn” vi thương mại là một biếu hiện của hành vi pháp li dân sự,.”,ˆ hành vi thương mai là hành vi dân sự đặc thù va với logic đó, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là loại hợp đồng dân sự đặc thù. Là loại hợp đồng dân sự, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có những điểm giống hợp đồng dân sự về bản chất, tức là phản ánh bản chất là sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lí, đều phản ánh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hoá tiền tệ, đều có chủ thé là pháp nhân, cá nhân. Bên cạnh đó, hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cũng có những đặc điểm riêng của ' Tham khảo: Dinh Thị Mai Phương, Thống nhất luật hợp dong ở Việt Nam, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, 2005. ? Đào Tri Úc, “Vai trò của luật dân sự ở nước ta hiện nay”, Đề tài cấp bộ: Những van dé lí luận về Bộ luật dân sự ở Việt Nam), Hà Nội, 1997, tr. lãi nó, mà trên cơ sở đó, về cơ bản có thé phân biệt hợp đồng trong lĩnh vực thương mại với hợp đông dân sự nói chung.