GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM Tập Il Giáo trình này đã được Hội đồng nghiệm thu giáo trình Trường Dai học Luật Hà Nội (thành lập theo Quyết định số 1978/OD-DHLHN ngày 22 thang 5 năm 2019 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Ha Nội) đồng ý thông qua ngày 23 tháng 8 năm 2019 và được Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội cho phép xuất bản theo Quyết định số 3528/OD-PHLHN ngày 14 tháng 10 năm 2020. Mã số: TPG/K - 22 - 43 19-2022/CXBIPH/06-03/TP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM Tập II NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP HÀ NỘI - 2022 Chủ biên PGS. PHẠM VĂN TUYẾT PGS. TRAN THỊ HUE Tập thể tác giả PGS.
TRAN THI HUE Chuong 10 PGS. PHAM VAN TUYET Chuong 11 TS. HOANG THI LOAN PGS. PHAM VAN TUYẾT Chương 12 (Mục 1, 2, 3, 4) TS.
NGUYEN MINH OANH Chương 12 (Mục 5, 6, 7) TS. VƯƠNG THANH THUY Chương 13 (Mục 2. LÊ THỊ GIANG Chương 13 (Mục 1, 2. BÙI ĐĂNG HIẾU Chương 14 TS.
NGUYEN MINH TUẦN Chương 15 TS. VŨ THỊ HONG YEN Chương 16 PGS. PHÙNG TRUNG TẬP. Chương 17 PGS.
TRAN THỊ HUE Chuong 18 (Muc 1) TS. LÊ ĐÌNH NGHỊ PGS. TRAN THỊ HUE Chuong 18 (Muc 2) THS. LÊ THỊ HAI YEN TS.
NGUYEN VAN HOI Chuong 18 (Muc 3) LỜI GIỚI THIỆU Môn học Luật dân sự là một môn khoa học pháp lí có nhiệm vụ nghiên cứu các quy định của pháp luật dán sự nói chung và đặc biệt nghiên cứu các quy định trong Bộ luật Dân sự nói riêng. Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ hop thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017. Day là Bộ luật được ban hành trên cơ sở tiếp thu, sửa đổi và bồ sung các Bộ luật Dán sự trước đó cua Nhà nước ta. Bộ luật Dán sự năm 2015 là luật chung của các ngành luật tư, quy định địa vị pháp lí, chuẩn mực pháp lí về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quy định quyên, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đăng, tự do y chí, độc lập vé tai sản và tự chịu trách nhiệm.
Để đáp ứng kịp thời cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập theo sát quy định của Bộ luật Dan sự năm 2015 và phù hop với khoa học pháp lí hiện đại, Bộ môn Luật dân sự thuộc Khoa Pháp luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức biên soạn Giáo trình Luật dân sự Việt Nam. Giáo trình được biên soạn theo chương trình, mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội và phù hop với chương trình khung do Bộ Giáo duc và Dao tạo quy định. Bằng phương pháp tư duy khoa học và trên cơ sở các chủ thuyết cơ bản, Giáo trình đã bám sát các quy định của luật thực định nhằm xác định các khái niệm khoa học, phương pháp tiếp cận và vận dụng các quy định của pháp luật dân sự vào đời sống thực tiễn. Quá trình biên soạn Giáo trình là sự cô gang nỗ lực của tập thể tác giả, mặc du vậy vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót.
Tập thể tác giả rất mong nhận được những đóng góp của các độc giả để Giáo trình Luật dán sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội ngày càng được hoàn thiện hơn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc! Hà Nội, thang 01 năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Chương 10 KHÁI QUAT CHUNG VE NGHĨA VỤ 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE NGHĨA VỤ 1. Khái niệm, đặc điểm pháp lí của nghĩa vu Thuật ngữ nghĩa vụ là một trong những thuật ngữ thông dụng, được sử dụng phổ biến trong cuộc sông hàng ngày.
Thông thường, nghĩa vụ được hiểu là “các điều mà chúng ta theo lương tâm phải thực hiện dé làm tròn bốn phận”.! Theo đó, bất cứ khi nào một người phải thực hiện một công việc nào đó theo yêu cầu của người khác thì đều được hiểu đó là nghĩa vụ của họ, bất kế việc thực hiện công việc có mang lại lợi ích cho người yêu cầu hay không. Ví dụ, con cái phải cúng giỗ tổ tiên; con cái phải nghe lời cha mẹ; người tham gia giao thông phải chấp hành các quy định của pháp luật về giao thông. Theo cách hiểu này, những việc mà người có nghĩa vụ phải làm có thể có hoặc không có tính bắt buộc đối với chủ thé. Tức là có nhiều nghĩa vụ hình thành và tồn tại trong đời sống hàng ngày không chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật mà chỉ chịu sự điều chỉnh của các quy tắc đạo đức, nên không thuộc đối tượng nghiên cứu của các môn khoa học pháp lí, ví dụ như nghĩa vụ cúng giỗ tô tiên, nghĩa vụ nghe lời dạy bảo của cha mẹ.
Khoa học pháp lí từ trước đến nay chỉ nghiên cứu những nghĩa vụ mà sự hình thành và tồn tại của nó chịu sự điều chỉnh của những ! Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo (Quyển II - Nghĩa vụ và khế óc), Bộ Quoc gia giáo dục xuât ban, Sai Gòn, 1963, tr. quy phạm pháp luật cụ thể. Có nhiều cách hiểu khác nhau về nghĩa vụ đã được đưa ra, song quan niệm “nghĩa vụ là một mối liên hệ pháp lí giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia là thụ trái (hay con nợ) phải thi hành một khoản có thé trị giá bằng tiền”! van là quan niệm phổ biến. Đây là cách hiểu truyền thông về nghĩa vụ và được áp dụng trong khoa học pháp lí từ xưa đến nay.
Tại Việt Nam, định nghĩa về nghĩa vụ cũng được luật hóa từ cách hiểu truyền thống này, theo đó “nghia vu là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thé (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyên, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyên)”.? Với định nghĩa này, có thé nhận thấy những đặc điểm cơ bản của nghĩa vụ như sau: Thứ nhất, nghĩa vụ được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự cụ thé (quan hệ về nghĩa vụ). Về lí luận, quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, và được cấu thành bởi ba yếu tố đó là chủ thé, khách thé và nội dung của quan hệ. Theo quy định tại Điều 274 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, định nghĩa về nghĩa vu cũng được dé cập với day đủ các yếu tố cầu thành nên một quan hệ pháp luật như: (i) Chủ thé của quan hệ nghĩa vu bao gồm bên có nghĩa vụ và bên có quyền; (ii) Khách thé của quan hệ nghĩa vụ là những lợi ích mà các bên hướng tới khi xác lập quan hệ nghĩa vụ. Những lợi ích mà mỗi bên đạt được đều thông qua những hành vi cụ thê của phía bên kia như hành vi chuyên giao tài sản, hành vi thực hiện công viéc.; (11) Nội dung của quan hệ nghĩa vụ bao gồm tông hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau, trong đó xác định cụ thể bên có nghĩa vụ phải thực hiện ' Vũ Văn Mau, tldd, tr.
8 hành vi gì, thực hiện theo phương thức nào, ở thời gian, địa điểm nào. Thứ hai, quan hệ nghĩa vụ là một loại quan hệ pháp luật dân sự tương đối. Trong khoa học pháp lí nói chung, khoa học pháp lí dan sự nói riêng, khi căn cứ vào tiêu chí về tính xác định của chủ thể, quan hệ pháp luật dân sự được chia thành quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối và quan hệ pháp luật dân sự tương đối. Không giống như các quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối - quan hệ chỉ xác định chủ thé mang quyên, trong quan hệ nghĩa vụ, các bên chủ thé luôn được xác định cụ thé ngay từ thời điểm quan hệ được xác lập.
Việc xác định cu thé các bên chủ thê là căn cứ dé chủ thé mang quyền có thé thực hiện quyền yêu cầu theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ là một loại quan hệ trái quyền, quyền của bên mang quyền trong quan hệ này là quyền đối nhân. Đây là đặc điểm quan trong dé phân biệt quan hệ nghĩa vụ với các quan hệ vật quyền (quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế. Trong quan hệ vật quyền, quyền của chủ thé mang quyền được xác lập trên tài sản.
Theo đó, chủ thé mang quyên tự mình thỏa mãn quyền bang cách tác động vào tai sản thuộc sở hữu cua mình hoặc tài sản không thuộc sở hữu nhưng có quyền xác lập trên đó (ví dụ như quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bat động sản liền kề). Tuy nhiên, trong quan hệ nghĩa vụ, quyền của chủ thé mang quyền có được thỏa mãn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Thứ tw, trong quan hệ nghĩa vụ, quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thê luôn đối lập với nhau. Theo đó, quyền của chủ thể này luôn tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể phía bên kia và ngược lại.
Tức là việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ luôn hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của bên có quyền. Do đó, sự vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ dù là ít nghiêm trọng nhất cũng có thé khiến cho quyên và lợi ích hợp pháp của bên có quyên bị ảnh hưởng. Đối tượng của nghĩa vụ Đối tượng của quan hệ pháp luật dân sự nói chung là các yếu tô mà các chủ thê tác động vào đề thỏa mãn lợi ích của mình hoặc thỏa mãn lợi ich của các chủ thé khác. Trong quan hệ nghĩa vụ, dé đáp ứng các yêu cầu của bên mang quyên, bên có nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi nhất định theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, đồng thời những hành vi đó chỉ thực sự có giá trị khi nó tác động vào một đối tượng cụ thể.
Theo quy định tại Điều 276 BLDS năm 2015, đối tượng của nghĩa vụ có thé là tài sản hoặc một công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện. Tuy nhiên, dé trở thành đối tượng của nghĩa vụ, tài sản hoặc công việc phải thỏa mãn những điều kiện nhất định. Đối tượng của nghĩa vụ là tài san Thực tế cho thấy, lợi ích mà các chủ thê hướng tới trong quan hệ nghĩa vụ hầu hết là lợi ích về tài sản.