SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI ĐẮK LẮK TRƯỜNG TRUNG CẤP TRƯỜNG SƠN GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: LUẬT ĐẤT ĐAI NGÀNH/NGHỀ: PHÁP LUẬT TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP Ban hành kèm theo Quyết định số:140/QĐ-TCTS ngày 02 tháng 8 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường trung cấp Trường Sơn Đắk Lắk, năm 2022 TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm. ii LỜI GIỚI THIỆU Giới thiệu xuất xứ của giáo trình, quá trình biên soạn, mối quan hệ của giáo trình với chương trình đào tạo và cấu trúc chung của giáo trình. Lời cảm ơn của các cơ quan liên quan, các đơn vị và cá nhân đã tham gia.
Đắk Lắk, ngày 02 tháng 8 năm 2022 Tham gia biên soạn 1. Võ Đình Duy - Chủ biên 2. Tô Duy Khâm 3. Đặng Thị Nhung iii MỤC LỤC LỜI GIỚI THIỆU.
iii GIÁO TRÌNH MÔN HỌC/MÔ ĐUN .1 BÀI 1: KHÁI NIỆM LUẬT ĐẤT ĐAI. Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và nhiệm vụ của luật đất đai. Định nghĩa luật đất đai, đối tượng và phương pháp điều chỉnh của luật đất đai.4 BÀI 2: QUAN HỆ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI .14 BÀI 3: QUẢN LÝ THÔNG TIN, DỮ LIỆU VÀ TÀI CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI .Quản lý về địa giới hành chính. Hoạt động điều tra, khảo sát, đo đạc.
Lập, quản lý hồ sơ địa chính và đăng ký QSDĐ .Thống kê, kiểm kê đất đai. Thống kê đất đai:. Kiểm kê đất đai. Hoạt động đánh giá đất và quản lý tài chính về đất đai.36 BÀI 4: ĐIỀU PHỐI ĐẤT ĐAI .Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Nội dung pháp luật về quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất. Giao đất, cho thuê đất. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất (Điều 59 Luật đất đai 2013) .49 BÀI 5: QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT .Quyền chuyển quyền sử dụng đất (quyền giao dịch quyền sử dụng đất).Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Quyền được giao khoán đất của các nông-lâm trường quốc doanh.91 BÀI 6: NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT.
Nghĩa vụ chung.93 BÀI 7 : GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI; XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI; GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI .Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện và tố cáo về đất đai. Xử lý vi phạm pháp luật đất đai.Giải quyết tranh chấp về đất đai .110 v GIÁO TRÌNH MÔN HỌC/MÔ ĐUN Tên môn học: LUẬT ĐẤT ĐAI Mã số môn học: MH 18 VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC: - Vị trí: Là môn khoa học cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo của nghề pháp luật, được bố trí giảng dạy học kỳ 1 của năm học thứ hai. - Tính chất: Là môn khoa học xã hội, học sinh sẽ được tiếp cận với nội dung kiến thức về luật ngân hàng MỤC TIÊU MÔN HỌC: - Kiến thức: + Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản mang tính lý luận về Luật đất đai, giúp sinh viên nhận thức được chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở Việt Nam mang tính đặc biệt chi phối việc quản lý và sử dụng đất đai và thể hiện cụ thể của nó trong các quy phạm pháp luật đất đai. - Kỹ năng: + Vận dụng giải quyết các công việc phụ trách ở các lĩnh vực pháp chế tại các tổ chức tín dụng, tư vấn pháp lý đối với các hoạt động liên quan đến lĩnh vực ngân hàng, thực hiện các công việc có liên quan đến hoạt động ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật.
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Sau khi nghiên cứu môn học, sinh viên cần nắm được: - Tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai - Khái niệm, nguyên tắc cơ bản của ngành luật - Nội dung quản lý nhà nước về đất đai - Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng đất; đặc biệt là quyền giao dịch và các loại nghĩa vụ tài chính. - Sinh viên phải nhận dạng được các loại chủ thể và hình thức sử dụng đất; các dạng tranh chấp đất đai và khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai để từ đó vận dụng giải quyết các tình huống trong thực tế. NỘI DUNG MÔN HỌC: 1 BÀI 1: KHÁI NIỆM LUẬT ĐẤT ĐAI Mã chương/mã bài: Giới thiệu: Luật đất đai là ngành luật độc lập trọng hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước về đất đai và quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất đai của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Mục tiêu: - Nắm bắt chế độ sở hữu đối với đất đai - Định nghĩa, đối tượng, nguồn của luật đất đai Nội dung chính: 1. Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và nhiệm vụ của luật đất đai.Chế độ sở hữu toàn dân: Chế độ sở hữu toàn dân là Chế độ sở hữu gồm tổng thể các quy phạm pháp luật xác định chủ thể, khách thể, nội dung, phương thức thực hiện quyền sở hữu của toàn dân.
Sở hữu toàn dân là hình thức cao nhất của sở hữu xã hội chủ nghĩa, trong đó các tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, các phương tiện và tài sản khác thuộc về nhà nước – người đại diện chính thức của nhân dân. Bên cạnh đó, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lý gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Chế độ sở hữu toàn dân tiếng Anh là All-people ownership regime Theo Hiến pháp năm 1980 thì Nhà nước chỉ thừa nhận sự tồn tại hình thành sở hữu duy nhất: sở hữu toàn dân về đất đai. Nhưng với những quy định của Luật đất đai năm 1993 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất thuộc về người sử dụng đất, khắc phục những khuyết điểm của Luật đất đai 1993 và Luật đất đai 2013 đã sửa đổi bổ sung quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Thực trạng của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay: Ở nước ta hiện nay việc thể chế hóa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong Hiến pháp và Luật Đất đai đã nhận được sự đồng tình, nhất trí cao trong nhân dân, thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã tránh được những hậu quả do chế độ sở hữu tư nhân đất đai gây ra. Ta thấy, sở hữu toàn dân về đất đai không phải thuộc sở hữu của riêng ai mà toàn thể nhân dân là chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý. Việc quy định Nhà nước ở nước ta là đại diện chủ sở hữu đất đai và thống nhất quản lý xuất phát từ bản chất của Nhà nước là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân do dân và vì dân, mọi tài sản, tư liệu sản xuất do Nhà nước đại diện cho dân là chủ sở hữu đều được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích chung của toàn thể nhân dân. Trong thời gian qua, ở nước ta tuy nảy sinh một số tiêu cực, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai, song những hạn chế, tiêu cực đó một mặt, do sự yếu kém trong quản lý đất đai của Nhà nước ra, chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ, đến nay, các chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, 2 chưa phù hợp; tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai còn không ít hạn chế, yếu kém, một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn đê trục lợi, tham nhũng, mặt khác, do nước ta trải qua nhiều thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, đất đai có nguồn gốc rất phức tạp.
Từ thực trạng đó, Luật đất đai năm 2013 đã có những điều chỉnh, bổ sung để việc quản lý, sử dụng chặt chẽ, hiệu quả hơn, hạn chế nảy sinh những tiêu cực, hạn chế. Ưu điểm và nhược điểm của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai: Ở nước ta, vốn đất đai quý báu do công sức, mồ hôi, sương máu của các thế hệ người Việt Nam tạo lập nên, vì vậy nó phải thuộc về toàn dân. Hơn nữa, hiện nay trong điều kiện nước ta “mở cửa”, chủ động hội nhập từng bước vững chắc vào nền kinh tế khi vực và trên thế giới, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thì việc xác lập hình thức sở hữu toàn dân về đất đai là một trong những phương thức nhằm góp phần củng cố và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta hiện nay còn tránh được những hậu quả do chế độ sở hữu tư nhân đất đai gây ra.
Nghiên cứu sản xuất nông nghiệp, trực tiếp là địa tô trong nền kinh tế tư bản củ nghĩa, Các Mác và sau đó là V.Lênin đã chỉ ra tính chất vô lý của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, nguồn gốc đẻ ra địa tô, làm cho giá cả nông phẩm tăng, kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp. Để khắc phục tình trạng này, V.Leenin đã chủ trương phải quốc hữu hóa đất đai, xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, thay vào đó là chế độ công hữu về đất đai. Việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý sẽ giúp Nhà nước có điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai theo kế hoạch phát triển chung nhằm quản lý chặt chẽ và từng bước đưa diện tích đất chưa sử dụng (hơn 4,5 triệu ha đất tự nhiên) vào khai thác, sử dụng hợp lý đi đôi với việc cải tạo, bồi bổ vốn đất đai quý giá của quốc gia.