Chương 1: NHẬP MÔN TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG 7 Nội dung trọng tâm - Khái niệm Đông phương học và vấn đề tư tưởng phương Đông dưới góc nhìn khu vực học. - Hiểu được đặc trưng văn hóa phương Đông – tiền đề cho nghiên cứu tư tưởng phương Đông. - Nắm được mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn học. TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG DƯỚI GÓC NHÌN KHU VỰC HỌC Khu vực học là một khoa học liên ngành có nhiệm vụ nghiên cứu đặc điểm dân cư, chủng tộc, văn hóa, địa lý, lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, phong tục tập quán.
của các dân tộc trong cùng một khu vực được phân chia, sắp xếp theo những tiêu chí nhất định. Có rất nhiều tiêu chí để xác định một khu vực để trở thành đối tượng của khu vực học, song những tiêu chí cơ bản dùng để xác định thường bao gồm: không gian sinh tồn, chủng tộc, kinh tế, đặc trưng tư duy, văn hóa….Theo những tiêu chí như vậy, người ta có thể chia thành Đông phương học, Tây phương học, Châu Âu học, Châu Á học, Úc học, châu Mỹ học. thậm chí trong cùng một khu vực như Đông phương học hoặc Châu Á học người ta có thể chia thành các khu vực có giới hạn nhỏ hơn như Đông Á học, Đông Nam Á học, Nam Á học…. Với tư cách là một khoa học liên ngành, khu vực học ra đời nhằm giải quyết những khó khăn, hạn chế nhiều khi khó vượt qua của các khoa học đơn ngành khi chỉ giải quyết được các vấn đề trong lĩnh vực của ngành mình.
Trong khi thực tế khách quan có nhiều vấn đề liên đới nhau, cho nên Đông phương học không hẳn chỉ là đối tượng của một ngành khoa học cụ thể nào. Câu chuyện về nguồn gốc của chủng tộc, của tộc người là một ví dụ điển hình và không đơn giản cho cách giải quyết theo tư duy của một khoa học đơn ngành. Để xác định một tộc người thuộc về chủng tộc nào đó, các nhà khoa học không chỉ dựa vào tri thức của dân tộc học, khảo khổ học - vốn là những bộ môn chuyên ngành của khoa học lịch sử, mà còn phải dựa vào nhiều ngành khoa học khác như ngôn ngữ, văn hóa, dân tục học thậm chí cả những tri thức của khoa học tự nhiên như địa lý, sinh học, vật lý…mới hy vọng giải đáp được câu hỏi một cách 8 tương đối thuyết phục mà câu chuyện nguồn gốc người Việt là một ví dụ1. Với những vấn đề có tính “khu vực” vì vậy cần phải có một tri thức tổng hợp, gồm nhiều lĩnh vực khoa học liên ngành mới mong có thể giải quyết được vấn đề.
Tư tưởng phương Đông là một trong số những vấn đề như vậy. “Tư tưởng” với ý nghĩa chung nhất được hiểu là sự phản ánh hiện thực cuộc sống, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh được thể hiện ra trong tư duy nhận thức và hành động của con người. Đó có thể là nhận thức của một cá nhân, một tầng lớp, một giai cấp hay nhận thức của một cộng đồng, trong đó chứa đựng hệ thống những quan niệm, luận điểm có tính nhất quán đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, tầng lớp, giai cấp hay một cộng đồng dân tộc được hình thành trên cơ sở nhận thức và khám phá thực tiễn được đúc kết thành hệ thống. Vấn đề xác định nội hàm của khái niệm “tư tưởng” thì không có gì quá phức tạp.
Tuy nhiên, việc xác định “tư tưởng” của một khu vực trong diễn trình thời gian trên một địa vực không gian rộng lớn với sự tác động và chi phối của nhiều yếu tố khác nhau thì đó là một vấn đề phức tạp. Cái gọi là “phương thức sản xuất Châu Á” mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đưa ra với tư cách là một “kiểu phương thức” sản xuất vật chất, rồi từ đó đẻ ra phương thức tư tưởng/tinh thần, chắc hẳn đã/đang và sẽ được các nhà nghiên cứu ở cả phương Tây và phương Đông tiếp tục bàn luận, song chưa có gì là đảm bảo cho sự “thống nhất” nhận thức về nội hàm của luận điểm này giữa các học giả. Đó là chưa nói thực tiễn sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần ở mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi khu vực sẽ có những điểm khác biệt mà việc áp cái “khung” lý thuyết về năm phương thức sản xuất và hình thái nhà nước xã hội phương Tây của Mác không phải lúc nào cũng đúng, đặc biệt với các quốc gia, dân tộc ở phương Đông. 1 Vấn đề nguồn gốc người Việt được các nhà nghiên cứu dân tộc học đặt ra từ hàng thế kỷ với nhiều quan điểm khác nhau như thuyết “Việt tâm” với quan điểm cho rằng người Việt là người bản địa, nhưng thuyết “Hoa tâm” thường thắng thế cho rằng người Việt là người phương Bắc di cư xuống, do đó gần như không còn khái niệm “người Việt thuần chủng”.
Nhưng gần đây, nhóm nghiên cứu được tài trợ bởi tập đoàn Vingroup nghiên cứu về bộ gen người Việt đã công bố kết quả nghiên cứu bước đầu đã cho thấy bộ gen của người Việt gần với bộ gen người Thái Lan, ít quan hệ hơn với bộ gen người Hán. Điều đó cho thấy vấn đề nhân chủng học trước đây vốn chỉ thuộc lĩnh vực dân tộc học giải quyết thì nay cần phải kết hợp nhiều nghiên cứu liên ngành, trong đó có vai trò quan trọng của khoa học tự nhiên. 9 Muốn xác định rõ ràng nội hàm của tư tưởng phương Đông, chúng ta cần phải xuất phát từ Đông phương học. Đông phương học là một nhánh nghiên cứu của Khu vực học được hình thành trong thế kỷ XIX gắn với công cuộc bành trướng và xâm lược thuộc địa của các quốc gia tư bản phương Tây.
Để công cuộc xâm lược của các đế quốc tư bản thực dân phương Tây diễn ra thuận lợi, thành công thì ngoài sức mạnh về quân sự thì sự hiểu biết toàn diện về vùng đất mà họ dự định xâm chiếm có ý nghĩa rất quan trọng. Những hiểu biết quan trọng người phương Tây về lịch sử, văn hóa, dân tục, ngôn ngữ, tư tưởng, tôn giáo của các quốc gia phương Đông đã trở thành những tiền đề lý luận cho sự ra đời chính thức của bộ môn Đất nước học – một bộ phận cấu thành quan trọng của ngành Đông phương học thực hành. Như vậy, hiểu biết về đất nước học gắn liền với mục đích chính trị thực tiễn của các nước đế quốc tư bản thực dân là nguồn gốc trực iếp của sự hình thành ngành Đông phương học. Tuy nhiên, việc chiếm hữu và đô hộ một quốc gia khác ở phương Đông - dù rằng quốc gia đó trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu - vẫn không hề dễ dàng gì với các xứ bảo hộ.
Các nước phương Đông vẫn là những xứ hết sức thần bí, khó hiểu và xa lạ với lối tư duy duy lý, nặng tính khoa học của phương Tây. Và nếu đã không thể hiểu biết tường tận thì không thể thực hiện “sứ mệnh bảo hộ” của mình, không thể chinh phục được dân chúng xứ thuộc địa. Vì lẽ đó, ngành Đông phương học nghiên cứu hay Đông phương học khoa học ra đời với nhiệm vụ nghiên cứu, tìm hiểu toàn diện các vấn đề của các quốc gia phương Đông làm cơ sở cho các chính sách của chính quyền cai trị thuộc địa. Do đó, sau khi hoàn tất các cuộc xâm lược, đặt ách đô hộ lên các xứ thuộc địa, các “mẫu quốc” đã cho thành lập các cơ quan nghiên cứu về xứ thuộc địa với mục đích tìm hiểu tư tưởng, văn hóa, phong tục, lịch sử, xã hội các xứ thuộc địa kiểu như Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp ở Việt Nam.
Nửa sau thế kỷ XX, cùng với phong trào giải phóng thuộc địa diễn ra ở nhiều quốc gia, nhiều nước đã giành lại nền độc lập của mình, bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia. thì việc tiếp nối tìm hiểu nghiên cứu các vấn đề mà Đông phương học đặt ra trước đây tiếp tục được các nước tiếp thu phát triển. Đặc biệt, từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, khoảng 3 thập niên gần đây cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 4 đã tạo nên sự liên thông, kết nối, thế giới trở nên 10 “phẳng” hơn bao giờ hết thì việc nghiên cứu các khu vực khác nhau, trong đó có khu vực phương Đông càng trở nên quan trọng. Thế kỷ XXI được xem là thế kỷ của Châu Á, bởi lẽ bốn trong năm nền kinh tế lớn nhất thế giới đều nằm ở châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Asean).
Nhu cầu kết nối giữa các quốc gia trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng đến văn hóa, khoa học, tư tưởng. trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đã thúc đẩy nhiều ngành khoa học như Trung Quốc học, Nhật Bản học, Hàn Quốc học, Việt Nam học. phát triển mạnh mẽ. Như vậy, tiến trình ra đời và phát triển của khoa học về phương Đông có thể tóm tắt lại như sau: nửa đầu thế kỷ XX về trước, nền Đông phương học chủ yếu được nghiên cứu, tìm hiểu do yêu cầu đặt ra từ công cuộc xâm lược, bảo hộ và khai thác thuộc địa của các nước tư bản phương Tây.
Còn từ nửa sau thế kỷ XX trở lại đây, việc nghiên cứu phương Đông trở thành nhu cầu tự thân thiết yếu của các quốc gia phương Đông nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của chính mình. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC 2. Đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận Phương Đông là một khái niệm có nội hàm phong phú, phức tạp được nhận thức và tiếp cận nghiên cứu từ nhiều quan điểm khác nhau: Phương Đông được nhận thức như là khái niệm địa – chính trị: phương Đông với nghĩa là khu vực địa – chính trị được nhận thức có lẽ vào nửa cuối thế kỷ XIX gắn liền với công cuộc xâm lược thuộc địa của các đế quốc phương Tây. Làn sóng xâm chiếm thuộc địa đã khiến những vùng đất Châu Á xa xôi trở thành thuộc địa, nơi khai thác tài nguyên, khoáng sản, nguyên liệu phục vụ choc các ngành công nghiệp ở chính quốc.
Phương Tây dần trở thành khái niệm chỉ những nước tư bản đi thống trị và phương Đông gắn liền với những quốc gia nghèo đói, chậm phát triển và là những xứ thuộc địa cần được bảo hộ, khai hoá.