Giáo Trình Lịch Sử Tư Tưởng Phương Đông

Giáo trình về lịch sử tư tưởng phương đông, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao.

Trường đại học

Trường Đại Học Hải Phòng

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2021

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHẬP MÔN TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG

1.1. Tư tưởng phương Đông dưới góc nhìn Khu vực học

1.2. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

1.3. Đặc trưng tư tưởng phương Đông từ cách tiếp cận văn hóa

2. CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

2.1. BÀI 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc thời Ân – Chu

2.1.2. Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội

2.1.3. Ý thức hệ tư tưởng xã hội thời Ân – Chu

2.1.4. Xuân thu và quá trình tan rã của chế độ nô lệ

2.1.5. Nguyên nhân chế độ nô lệ tan rã

2.1.6. Tầng lớp sĩ quân tử ra đời và tư tưởng tôn trọng hiền tài

2.1.7. Sự hình thành chế độ phong kiến và sự phát triển rực rỡ của tư tưởng học thuật thời Chiến quốc

2.1.8. Sự hình thành chế độ phong kiến và sự tan rã đại quy mô của chế độ nô lệ

2.1.9. Sự phát triển rực rỡ của tư tưởng Trung Quốc thời Chiến quốc – hiện tượng Bách gia tranh minh

2.2. BÀI 2: TƯ TƯỞNG NHO GIA

2.2.1. Tư tưởng Khổng Tử

2.2.1.1. Tiểu sử, sự nghiệp của Khổng Tử
2.2.1.2. Học thuyết tư tưởng của Khổng Tử
2.2.1.3. Giá trị và địa vị tư tưởng của Khổng Tử

2.2.2. Tư tưởng Mạnh Tử

2.2.2.1. Tiểu sử Mạnh Tử
2.2.2.2. Tư tưởng nhân nghĩa và nhân chính
2.2.2.3. Quan niệm về bản tính con người - ‘‘thuyết tính thiện“
2.2.2.4. Tư tưởng đạo đức

2.3. BÀI 3: TƯ TƯỞNG ĐẠO GIA VÀ ĐẠO GIÁO

2.3.1. Tư tưởng triết học Đạo gia

2.3.1.1. Lão Tử và tư tưởng triết học Đạo Đức kinh
2.3.1.2. Trang Tử và tư tưởng triết học trong Nam Hoa kinh

2.3.2. Sự hình thành và phát triển của Đạo giáo

2.3.2.1. Nguồn gốc hình thành Đạo giáo
2.3.2.2. Quá trình phát triển Đạo giáo
2.3.2.3. Nội dung tư tưởng Đạo giáo

2.4. BÀI 4: TƯ TƯỞNG MẶC GIA

2.4.1. Tiểu sử Mặc Tử

2.4.2. Học thuyết tư tưởng của Mặc Tử

2.4.2.1. Quan điểm về giai cấp
2.4.2.2. Học thuyết kiêm ái – hạt nhân cốt lõi trong tư tưởng Mặc Tử
2.4.2.3. Phi công, phi mệnh, tiết dụng, tiết táng
2.4.2.4. Các chế tài thực hành kiêm ái

2.5. BÀI 5: TƯ TƯỞNG PHÁP GIA

2.5.1. Tiền đề lịch sử xã hội và tiền đề lý luận của Pháp gia

2.5.2. Các khuynh hướng Pháp gia trước Hàn Phi Tử

2.5.3. Quan niệm về lịch sử của Pháp gia

2.5.4. Tư tưởng Pháp gia của Hàn Phi Tử

3. CHƯƠNG 3: TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

3.1. BÀI 6: HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC, TÔN GIÁO ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

3.1.1. Hoàn cảnh ra đời tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại

3.1.1.1. Hoàn cảnh tự nhiên
3.1.1.2. Tiến trình lịch sử
3.1.1.3. Văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật

3.1.2. Quá trình phát triển tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại

3.1.2.1. Thời kỳ Vêda (thế kỷ XV – VII tr. Thời kỳ cổ điển (thời kỳ Phật giáo, Bàlamôn giáo)
3.1.2.2. Một số khái niệm cơ bản trong tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại

3.1.3. Các trường phái tư tưởng, triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại

3.1.3.1. Trường phái tư tưởng chính thống
3.1.3.2. Các trường phái tư tưởng phi chính thống
3.1.3.3. Đặc điểm tư tưởng triết học, tôn giáo Ấn Độ

3.2. BÀI 7: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

3.2.1. Bối cảnh ra đời Phật giáo giáo và tiểu sử Đức Phật

3.2.1.1. Bối cảnh xã hội nảy sinh tư tưởng Phật giáo
3.2.1.2. Tiểu sử Đức Phật

3.2.2. Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo

3.2.2.1. Vũ trụ quan của Phật giáo
3.2.2.2. Nhân sinh quan Phật giáo

3.2.3. Lịch sử truyền thừa và ảnh hưởng Phật giáo ra ngoài Ấn Độ

3.2.3.1. Lịch sử truyền thừa
3.2.3.2. Ảnh hưởng Phật giáo ra ngoài Ấn Độ

4. CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG - TÔN GIÁO TRONG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

4.1. Mối quan hệ giữa tư tưởng, tôn giáo với văn học nghệ thuật

4.2. Nho giáo với văn học nghệ thuật

4.2.1. Quan niệm của Nho giáo về văn học nghệ thuật

4.2.2. Nho giáo và sự hình thành hệ hình văn học khu vực

4.2.3. Nho giáo với loại hình tác giả nhà Nho

4.3. Đạo gia, đạogiáo với văn học nghệ thuật

4.3.1. Đạo gia, đạo giáo với văn học nghệ thuật Trung Quốc

4.3.2. Đạo gia, đạo giáo với văn học nghệ thuật Việt Nam

4.4. Phật giáo với văn học nghệ thuật

4.4.1. Phật giáo với văn học nghệ thuật Ấn Độ

4.4.2. Phật giáo với văn học nghệ thuật Trung Quốc

4.4.3. Phật giáo với văn học nghệ thuật Việt Nam

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Lịch Sử Tư Tưởng Phương Đông

Giáo trình Lịch sử tư tưởng phương Đông của Trường Đại học Hải Phòng là tài liệu quan trọng, cung cấp kiến thức về các trào lưu tư tưởng, triết học và tôn giáo của phương Đông. Giáo trình này không chỉ giúp sinh viên nắm bắt được tiến trình phát triển tư tưởng mà còn phân tích ảnh hưởng của chúng đến văn học nghệ thuật Việt Nam. Đặc biệt, giáo trình được biên soạn dựa trên những nghiên cứu khoa học uy tín, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy trong lĩnh vực Ngữ văn.

1.1. Mục tiêu và đối tượng của giáo trình

Giáo trình hướng đến sinh viên ngành Ngữ văn, cung cấp kiến thức cơ bản về tư tưởng phương Đông. Mục tiêu là giúp sinh viên hiểu rõ các trào lưu tư tưởng, từ đó áp dụng vào phân tích văn học và nghệ thuật.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính của giáo trình

Giáo trình được chia thành bốn chương, mỗi chương tập trung vào các khía cạnh khác nhau của tư tưởng phương Đông, từ tư tưởng Trung Quốc cổ đại đến tư tưởng Ấn Độ, cùng với ảnh hưởng của chúng trong văn học nghệ thuật.

II. Thách thức trong việc giảng dạy Lịch Sử Tư Tưởng Phương Đông

Việc giảng dạy Lịch sử tư tưởng phương Đông gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định mục tiêu và phương pháp giảng dạy. Nhiều giảng viên chưa xác định rõ ràng mục đích của môn học, dẫn đến việc giảng dạy trở nên khô khan và thiếu hấp dẫn. Điều này ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của sinh viên, khiến họ không thấy được giá trị thực sự của môn học.

2.1. Khó khăn trong việc xác định mục tiêu giảng dạy

Nhiều giảng viên chưa xác định được mục tiêu trọng tâm của việc giảng dạy, dẫn đến việc sinh viên không nhận thức được tầm quan trọng của tư tưởng phương Đông trong văn học.

2.2. Ảnh hưởng của phương pháp giảng dạy đến sinh viên

Phương pháp giảng dạy không phù hợp có thể khiến sinh viên cảm thấy môn học là một môn đại cương, không liên quan đến chuyên ngành, từ đó dẫn đến thái độ học tập hời hợt.

III. Phương pháp nghiên cứu trong Giáo Trình Lịch Sử Tư Tưởng Phương Đông

Giáo trình áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích tư tưởng phương Đông. Các phương pháp này bao gồm phân tích văn bản, so sánh và tiếp cận liên ngành. Điều này giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện về tư tưởng và văn hóa phương Đông.

3.1. Phương pháp phân tích văn bản

Phân tích văn bản giúp sinh viên hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của các tác phẩm tư tưởng phương Đông, từ đó rút ra những bài học giá trị cho văn học Việt Nam.

3.2. Phương pháp so sánh

So sánh các trào lưu tư tưởng giữa các nền văn hóa khác nhau giúp sinh viên nhận diện được sự tương đồng và khác biệt, từ đó làm phong phú thêm kiến thức về văn hóa phương Đông.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Giáo Trình Lịch Sử Tư Tưởng Phương Đông

Giáo trình không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phân tích văn học và nghệ thuật. Sinh viên có thể áp dụng kiến thức đã học để hiểu rõ hơn về các tác phẩm văn học, từ đó nâng cao khả năng phân tích và đánh giá.

4.1. Ảnh hưởng của tư tưởng phương Đông đến văn học Việt Nam

Tư tưởng phương Đông, đặc biệt là Nho giáo và Phật giáo, đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt Nam, thể hiện qua các tác phẩm nổi tiếng trong lịch sử.

4.2. Ứng dụng trong nghiên cứu văn hóa

Kiến thức từ giáo trình có thể được áp dụng trong nghiên cứu văn hóa, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về sự giao thoa văn hóa giữa các nền văn minh phương Đông.

V. Kết luận về Giáo Trình Lịch Sử Tư Tưởng Phương Đông

Giáo trình Lịch sử tư tưởng phương Đông là tài liệu cần thiết cho sinh viên ngành Ngữ văn tại Trường Đại học Hải Phòng. Nó không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên áp dụng vào thực tiễn. Việc biên soạn giáo trình này là bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.

5.1. Tầm quan trọng của giáo trình trong giáo dục

Giáo trình đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, giúp sinh viên có cái nhìn sâu sắc về tư tưởng phương Đông và ảnh hưởng của nó đến văn học.

5.2. Hướng phát triển tương lai của giáo trình

Giáo trình cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh những nghiên cứu mới nhất về tư tưởng phương Đông, từ đó đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: NHẬP MÔN TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG 7 Nội dung trọng tâm - Khái niệm Đông phương học và vấn đề tư tưởng phương Đông dưới góc nhìn khu vực học. - Hiểu được đặc trưng văn hóa phương Đông – tiền đề cho nghiên cứu tư tưởng phương Đông. - Nắm được mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu môn học. TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG DƯỚI GÓC NHÌN KHU VỰC HỌC Khu vực học là một khoa học liên ngành có nhiệm vụ nghiên cứu đặc điểm dân cư, chủng tộc, văn hóa, địa lý, lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, phong tục tập quán.

của các dân tộc trong cùng một khu vực được phân chia, sắp xếp theo những tiêu chí nhất định. Có rất nhiều tiêu chí để xác định một khu vực để trở thành đối tượng của khu vực học, song những tiêu chí cơ bản dùng để xác định thường bao gồm: không gian sinh tồn, chủng tộc, kinh tế, đặc trưng tư duy, văn hóa….Theo những tiêu chí như vậy, người ta có thể chia thành Đông phương học, Tây phương học, Châu Âu học, Châu Á học, Úc học, châu Mỹ học. thậm chí trong cùng một khu vực như Đông phương học hoặc Châu Á học người ta có thể chia thành các khu vực có giới hạn nhỏ hơn như Đông Á học, Đông Nam Á học, Nam Á học…. Với tư cách là một khoa học liên ngành, khu vực học ra đời nhằm giải quyết những khó khăn, hạn chế nhiều khi khó vượt qua của các khoa học đơn ngành khi chỉ giải quyết được các vấn đề trong lĩnh vực của ngành mình.

Trong khi thực tế khách quan có nhiều vấn đề liên đới nhau, cho nên Đông phương học không hẳn chỉ là đối tượng của một ngành khoa học cụ thể nào. Câu chuyện về nguồn gốc của chủng tộc, của tộc người là một ví dụ điển hình và không đơn giản cho cách giải quyết theo tư duy của một khoa học đơn ngành. Để xác định một tộc người thuộc về chủng tộc nào đó, các nhà khoa học không chỉ dựa vào tri thức của dân tộc học, khảo khổ học - vốn là những bộ môn chuyên ngành của khoa học lịch sử, mà còn phải dựa vào nhiều ngành khoa học khác như ngôn ngữ, văn hóa, dân tục học thậm chí cả những tri thức của khoa học tự nhiên như địa lý, sinh học, vật lý…mới hy vọng giải đáp được câu hỏi một cách 8 tương đối thuyết phục mà câu chuyện nguồn gốc người Việt là một ví dụ1. Với những vấn đề có tính “khu vực” vì vậy cần phải có một tri thức tổng hợp, gồm nhiều lĩnh vực khoa học liên ngành mới mong có thể giải quyết được vấn đề.

Tư tưởng phương Đông là một trong số những vấn đề như vậy. “Tư tưởng” với ý nghĩa chung nhất được hiểu là sự phản ánh hiện thực cuộc sống, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh được thể hiện ra trong tư duy nhận thức và hành động của con người. Đó có thể là nhận thức của một cá nhân, một tầng lớp, một giai cấp hay nhận thức của một cộng đồng, trong đó chứa đựng hệ thống những quan niệm, luận điểm có tính nhất quán đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cá nhân, tầng lớp, giai cấp hay một cộng đồng dân tộc được hình thành trên cơ sở nhận thức và khám phá thực tiễn được đúc kết thành hệ thống. Vấn đề xác định nội hàm của khái niệm “tư tưởng” thì không có gì quá phức tạp.

Tuy nhiên, việc xác định “tư tưởng” của một khu vực trong diễn trình thời gian trên một địa vực không gian rộng lớn với sự tác động và chi phối của nhiều yếu tố khác nhau thì đó là một vấn đề phức tạp. Cái gọi là “phương thức sản xuất Châu Á” mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đưa ra với tư cách là một “kiểu phương thức” sản xuất vật chất, rồi từ đó đẻ ra phương thức tư tưởng/tinh thần, chắc hẳn đã/đang và sẽ được các nhà nghiên cứu ở cả phương Tây và phương Đông tiếp tục bàn luận, song chưa có gì là đảm bảo cho sự “thống nhất” nhận thức về nội hàm của luận điểm này giữa các học giả. Đó là chưa nói thực tiễn sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần ở mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi khu vực sẽ có những điểm khác biệt mà việc áp cái “khung” lý thuyết về năm phương thức sản xuất và hình thái nhà nước xã hội phương Tây của Mác không phải lúc nào cũng đúng, đặc biệt với các quốc gia, dân tộc ở phương Đông. 1 Vấn đề nguồn gốc người Việt được các nhà nghiên cứu dân tộc học đặt ra từ hàng thế kỷ với nhiều quan điểm khác nhau như thuyết “Việt tâm” với quan điểm cho rằng người Việt là người bản địa, nhưng thuyết “Hoa tâm” thường thắng thế cho rằng người Việt là người phương Bắc di cư xuống, do đó gần như không còn khái niệm “người Việt thuần chủng”.

Nhưng gần đây, nhóm nghiên cứu được tài trợ bởi tập đoàn Vingroup nghiên cứu về bộ gen người Việt đã công bố kết quả nghiên cứu bước đầu đã cho thấy bộ gen của người Việt gần với bộ gen người Thái Lan, ít quan hệ hơn với bộ gen người Hán. Điều đó cho thấy vấn đề nhân chủng học trước đây vốn chỉ thuộc lĩnh vực dân tộc học giải quyết thì nay cần phải kết hợp nhiều nghiên cứu liên ngành, trong đó có vai trò quan trọng của khoa học tự nhiên. 9 Muốn xác định rõ ràng nội hàm của tư tưởng phương Đông, chúng ta cần phải xuất phát từ Đông phương học. Đông phương học là một nhánh nghiên cứu của Khu vực học được hình thành trong thế kỷ XIX gắn với công cuộc bành trướng và xâm lược thuộc địa của các quốc gia tư bản phương Tây.

Để công cuộc xâm lược của các đế quốc tư bản thực dân phương Tây diễn ra thuận lợi, thành công thì ngoài sức mạnh về quân sự thì sự hiểu biết toàn diện về vùng đất mà họ dự định xâm chiếm có ý nghĩa rất quan trọng. Những hiểu biết quan trọng người phương Tây về lịch sử, văn hóa, dân tục, ngôn ngữ, tư tưởng, tôn giáo của các quốc gia phương Đông đã trở thành những tiền đề lý luận cho sự ra đời chính thức của bộ môn Đất nước học – một bộ phận cấu thành quan trọng của ngành Đông phương học thực hành. Như vậy, hiểu biết về đất nước học gắn liền với mục đích chính trị thực tiễn của các nước đế quốc tư bản thực dân là nguồn gốc trực iếp của sự hình thành ngành Đông phương học. Tuy nhiên, việc chiếm hữu và đô hộ một quốc gia khác ở phương Đông - dù rằng quốc gia đó trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu - vẫn không hề dễ dàng gì với các xứ bảo hộ.

Các nước phương Đông vẫn là những xứ hết sức thần bí, khó hiểu và xa lạ với lối tư duy duy lý, nặng tính khoa học của phương Tây. Và nếu đã không thể hiểu biết tường tận thì không thể thực hiện “sứ mệnh bảo hộ” của mình, không thể chinh phục được dân chúng xứ thuộc địa. Vì lẽ đó, ngành Đông phương học nghiên cứu hay Đông phương học khoa học ra đời với nhiệm vụ nghiên cứu, tìm hiểu toàn diện các vấn đề của các quốc gia phương Đông làm cơ sở cho các chính sách của chính quyền cai trị thuộc địa. Do đó, sau khi hoàn tất các cuộc xâm lược, đặt ách đô hộ lên các xứ thuộc địa, các “mẫu quốc” đã cho thành lập các cơ quan nghiên cứu về xứ thuộc địa với mục đích tìm hiểu tư tưởng, văn hóa, phong tục, lịch sử, xã hội các xứ thuộc địa kiểu như Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp ở Việt Nam.

Nửa sau thế kỷ XX, cùng với phong trào giải phóng thuộc địa diễn ra ở nhiều quốc gia, nhiều nước đã giành lại nền độc lập của mình, bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia. thì việc tiếp nối tìm hiểu nghiên cứu các vấn đề mà Đông phương học đặt ra trước đây tiếp tục được các nước tiếp thu phát triển. Đặc biệt, từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, khoảng 3 thập niên gần đây cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 4 đã tạo nên sự liên thông, kết nối, thế giới trở nên 10 “phẳng” hơn bao giờ hết thì việc nghiên cứu các khu vực khác nhau, trong đó có khu vực phương Đông càng trở nên quan trọng. Thế kỷ XXI được xem là thế kỷ của Châu Á, bởi lẽ bốn trong năm nền kinh tế lớn nhất thế giới đều nằm ở châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Asean).

Nhu cầu kết nối giữa các quốc gia trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng đến văn hóa, khoa học, tư tưởng. trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đã thúc đẩy nhiều ngành khoa học như Trung Quốc học, Nhật Bản học, Hàn Quốc học, Việt Nam học. phát triển mạnh mẽ. Như vậy, tiến trình ra đời và phát triển của khoa học về phương Đông có thể tóm tắt lại như sau: nửa đầu thế kỷ XX về trước, nền Đông phương học chủ yếu được nghiên cứu, tìm hiểu do yêu cầu đặt ra từ công cuộc xâm lược, bảo hộ và khai thác thuộc địa của các nước tư bản phương Tây.

Còn từ nửa sau thế kỷ XX trở lại đây, việc nghiên cứu phương Đông trở thành nhu cầu tự thân thiết yếu của các quốc gia phương Đông nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của chính mình. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC 2. Đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận Phương Đông là một khái niệm có nội hàm phong phú, phức tạp được nhận thức và tiếp cận nghiên cứu từ nhiều quan điểm khác nhau: Phương Đông được nhận thức như là khái niệm địa – chính trị: phương Đông với nghĩa là khu vực địa – chính trị được nhận thức có lẽ vào nửa cuối thế kỷ XIX gắn liền với công cuộc xâm lược thuộc địa của các đế quốc phương Tây. Làn sóng xâm chiếm thuộc địa đã khiến những vùng đất Châu Á xa xôi trở thành thuộc địa, nơi khai thác tài nguyên, khoáng sản, nguyên liệu phục vụ choc các ngành công nghiệp ở chính quốc.

Phương Tây dần trở thành khái niệm chỉ những nước tư bản đi thống trị và phương Đông gắn liền với những quốc gia nghèo đói, chậm phát triển và là những xứ thuộc địa cần được bảo hộ, khai hoá.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ