mở đầu cuộc xâm lược lần thứ hai. Trong khi đó, chính quyền cách mạng chưa được củng cố vững chắc và chưa được nước nào trên thế giới công nhận. Văn hoá, xã hội còn rất nhiều bất cập do hậu quả của chế độ cũ để lại. Đặc biệt về kinh tế, nước ta vốn nghèo nàn lạc hậu, lại bị kiệt quệ bởi sự vơ vét của Pháp - Nhật.
Công nghiệp đình đốn, nông nghiệp tiêu điều với hơn 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang do hạn hán, lụt lội gây nên. Thương nghiệp ngưng trệ, bế tắc, hàng hoá khan hiếm, giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng mạnh. Tài chính cạn kiệt, kho bạc hầu như trống rỗng; ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp. Lợi dụng quyền nắm việc phát hành tiền bọn tư bản ngân hàng Pháp gây rối loạn tiền tệ.
Cùng lúc quân Tưởng còn tung ra thị trường đồng "quan kim" và "quốc tệ" đang mất giá, làm kinh tế tài chính nước ta càng thêm rối ren. Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu đồng bào miền Bắc mới chấm dứt thì lại có nguy cơ hình thành nạn đói mới đe dọa đến cuộc sống người dân. Trước tình hình hết sức khó khăn đó, Chính phủ ta đã có những quyết sách và hành động đúng đắn giúp đất nước vượt qua khó khăn, giữ được thành quả cách mạng và tạo ra điều kiện để giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai. Đặc điểm tình hình kinh tế 4.
Giải quyết nạn đói a. Nguyên nhân của nạn đói Trong và sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ở miền Bắc nước ta xuất hiện một nạn đói mới. Nạn đói hình thành do các nguyên nhân: 1) Chính sách vơ vét thóc gạo và phá lúa trồng đay của Nhật - Pháp 147 trong những năm 1939-1945. Để đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh, Nhật đã buộc Pháp kí kết nhiều hiệp ước cung cấp lương thực thực phẩm cho họ hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc; bắt người dân nhổ lúa trồng đay.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp cũng dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng Minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho các cuộc tái xâm lược Việt Nam. 2) Trong thời gian tháng 8 đến tháng 9 năm 1945, ở miền Bắc xảy ra thiên tai, lũ lụt; 9 tỉnh ở Bắc bộ vỡ đê làm vụ lúa mùa bị thất thu tới 50% sản lượng. Cùng trong thời gian này, ba tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng bị mất mùa trên một nửa diện tích gieo trồng của địa phương. 3) Trong lúc tình hình khó khăn về lương thực như vậy thì nhiều tư thương thực hiện việc đầu cơ tích trữ lương thực (lúa gạo) để kiếm lời.
Việc làm của tư thương cũng gây thêm khó khăn cho đời sống người dân miền Bắc sau cách mạng tháng Tám 1945, khiến nạn đói càng thêm trầm trọng. Giải quyết nạn đói Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 3 tháng 9 năm 1945), Hồ Chủ Tịch đã nêu 6 nhiệm vụ cần thực hiện ngay, trong đó 3 nhiệm vụ "diệt giặc đói", "diệt giặc dốt" và "diệt giặc ngoại xâm" được ưu tiên hàng đầu. Để giải quyết nạn đói, Chính phủ đã triển khai thực hiện các giải pháp cấp bách, trước mắt và các giải pháp căn bản, lâu dài. Việc làm đầu tiên thuộc về giải pháp cấp bách, trước mắt là Hồ Chủ Tịch và Chính phủ đã phát động các phong trào tương trợ, cứu tế kêu gọi toàn dân quyên góp lương thực cứu đói.
Để tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng phong trào này, Hồ Chủ Tịch đã viết thư gửi đồng bào cả nước (ngày 28 tháng 9 năm 1945): "Lúc chúng ta bưng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Dân ta vốn có truyền thống tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách" trong lúc khó khăn, hoạn nạn nên đã tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Các hoạt động quyên góp, "ngày đồng tâm", phong trào "nhường cơm sẻ áo", "hũ gạo cứu đói" diễn ra sôi nổi, rộng khắp.
Bên 148 cạnh kêu gọi, vận động Chính phủ còn thực hiện các biện pháp hành chính như cấm dùng gạo nấu rượu, xoá bỏ mọi hạn chế trong lưu thông gạo giữa các vùng trong cả nước, cấm tích trữ gạo, lập tổ chức "Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế" để giải quyết nạn đói. Việc chuyên chở gạo từ các tỉnh Trung Bộ và Nam Bộ ra Bắc Bộ được thực hiện khẩn trương. Chỉ tính 3 tháng cuối năm 1945, đã có 700 tấn gạo được chuyển ra Bắc Bộ và trước khi chiến sự ở Nam Bộ diễn biến ác liệt, đã có gần 30 nghìn tấn gạo được chuyển ra Bắc theo đường sắt. Sau đó vận chuyển gạo được tiến hành bằng đường thủy ra Hải Phòng nhưng một phần khá lớn đã bị quân đội của Tướng Lư Hán trưng dụng mất.
Số gạo còn lại được phân phối cho các địa phương bị đói trầm trọng nhất. Các hoạt động trên chỉ có tính chất "cấp cứu". Để xóa bỏ hẳn nạn đói cần thực hiện các giải pháp căn bản lâu dài là phát triển sản xuất. Tăng gia sản xuất không chỉ để giải quyết nạn đói, mà còn là cơ sở cho toàn bộ chính sách kinh tế của Chính phủ cách mạng Việt Nam.
Để động viên, khuyến khích tăng gia sản xuất nông nghiệp, Hồ Chủ tịch đã kêu gọi nông dân: "Thực túc thì binh cường. Cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện tấc đất tấc vàng thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó. Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay.
Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do độc lập" [Hồ Chí Minh, 2011, tập 4, 609]. Chính phủ đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp để hướng dẫn người dân tăng gia sản xuất: Bộ Canh nông xuất bản tờ báo "Tấc đất" để tuyên truyền, vận động, chỉ đạo, hướng dẫn tăng gia sản xuất; Chính phủ cho nhân dân vay thóc, vay tiền để sản xuất; chi ngân sách sửa chữa những quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới1. Đầu năm 1946, việc tu bổ đê điều cơ bản hoàn thành. Để đẩy mạnh việc tăng gia sản xuất, Chính phủ cử cán bộ thú y về nông thôn chăm sóc gia súc, gia cầm; chủ trương miễn thuế cho dân vùng bị lụt; giảm thuế ruộng 20%, buộc địa chủ giảm tô 25%; đất công được chia lại cho hợp lý 1 Tuy gặp khó khăn về tài chính nhưng Chính phủ vẫn cố gắng chi khoảng 8 triệu đồng để lo việc sửa chữa, tu bổ đê điều.
149 hơn; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian đem chia cho nông dân thiếu đất. Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Hồ Chủ Tịch, sự chỉ đạo tích cực của Chính phủ và sự nỗ lực của toàn dân, chỉ trong một thời gian ngắn, hoạt động tăng gia sản xuất (gồm trồng hoa màu và lúa) đã đạt được kết quả quan trọng. Trong 5 tháng từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 5 năm 1946, sản lượng lương thực (chủ yếu là hoa màu), đạt 614.000 tấn, tương đương 506.000 tấn lúa, đủ bù đắp số lương thực thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Năm 1946 ở Bắc Bộ, vụ lúa chiêm đã tăng hơn vụ chiêm năm 1945 khoảng 100.000 tấn; vụ lúa mùa gieo trồng trên diện tích 890.000 ha, đạt sản lượng 1.
Nhờ nỗ lực của Chính phủ và toàn dân trong các phong trào quyên góp, tổ chức điều tiết lương thực cả nước và trong cuộc vận động tăng gia sản xuất, kết quả thu được tốt đẹp. Nạn đói đã từng bước được chặn đứng và đẩy lùi. Đây "thực sự là một kỳ công của chế độ dân chủ nhân dân" [Võ Nguyên Giáp, 1946. Dẫn theo Lê Mậu Hãn & cộng sự, 2013, 36].
Xây dựng nền tài chính, tiền tệ độc lập a. Xây dựng tài chính Khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, kho bạc hoàn toàn trống rỗng. Nền tài chính quốc gia mới có thể coi là khánh kiệt vì chúng ta chỉ chiếm giữ được Sở Ngân Khố và cố gắng kiểm soát một phần Ngân hàng Đông Dương. Ngân khố của chính quyền cũ để lại chỉ còn 1.000 đồng Đông Dương, trong đó 580.000 đồng là bị rách nát phải tiêu hủy [Đinh Thị Thu Cúc, 2017, 30].
Điều này được Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến nhận định: Chính phủ cách mạng lúc đó là một chính phủ "không tiền". Để giải quyết tình hình khó khăn và bước đầu xây dựng nền tài chính độc lập, Chính phủ đã triển khai các giải pháp cấp bách, trước mắt và các giải pháp căn bản lâu dài. Những việc làm thuộc giải pháp cấp bách bao gồm: phát động các phong trào quyên góp như phong trào "Quỹ độc lập", "Tuần lễ vàng"; phong trào "đón thương binh về làng", nuôi 150 dưỡng cán bộ. Phong trào "Quỹ độc lập" được phát động dựa vào Sắc lệnh số 4/SL ngày 4 tháng 9 năm 1945 của Chính phủ.
Mục đích của phong trào là để "thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của quốc gia" [Đinh Thị Thu Cúc, 2017, 56]. Còn "Tuần lễ vàng" thì được tổ chức từ ngày 16 tháng 9 năm 1945 nhằm kêu gọi các nhà giàu đóng góp một phần tài sản cho đất nước vừa giành được độc lập còn nhiều khó khăn. Các phong trào phát động được đông đảo dân chúng hưởng ứng. Kết quả Chính phủ đã thu được 370 kg vàng và 20 triệu đồng Đông Dương.
Hai khoản thu được này giá trị tương tương với hai khoản thuế đinh và thuế điền mà chính quyền thuộc địa thu được một năm ở Đông Dương trước đó1. Ngoài tiền và vàng, nhiều người còn hiến cả nhà cửa, ruộng vườn cho Chính phủ. Dù chưa phải là lớn, nhưng với hai khoản thu này cũng phần nào giúp Chính phủ bớt khó khăn trong bối cảnh ngân sách còn hạn hẹp sau cách mạng. Bên cạnh giải pháp cấp bách, Chính phủ cũng triển khai các giải pháp mang tính căn bản, lâu dài để xây dựng nền tài chính độc lập của quốc gia.
Đối với thuế, Chính phủ chủ trương cải cách dần chế độ thuế, trong đó sửa ngay những thứ thuế quá vô lý, tạm giữ nguyên những gì không quá sai trái với tinh thần của chế độ dân chủ, bổ sung dần những quy chế mới.