mở đầu là sự xuất hiện nhà nước Văn Lang có niên đại cách ngày nay khoảng 4. Giai đoạn Âu Lạc là bước phát triển 24 kế tiếp của Văn Lang và thuộc thời đại dựng nước. Từ thập niên 1990 đến nay, dựa trên những thành tựu mới của Sử học, thời điểm xuất hiện nhà nước Văn Lang được xác định vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I TCN. Trong thời cổ đại trên đất nước ta, bên cạnh nhà nước Văn Lang - Âu Lạc còn có hai nhà nước khác xuất hiện, tồn tại là nhà nước Champa ở Trung Bộ và nhà nước Phù Nam ở Nam Bộ.
Trong đó, nhà nước Champa xuất hiện cuối thế kỷ II và chấm dứt sự tồn tại vào cuối thế kỷ XVII; còn nhà nước Phù Nam ra đời vào thế kỷ I, chấm dứt sự tồn tại vào đầu thế kỷ VII. Nước Văn Lang - Âu Lạc qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn tồn tại, phát triển. Còn Champa và Phù Nam trong tiến trình lịch sử đã hoà nhập vào dòng chảy chủ lưu là Văn Lang - Âu Lạc - Đại Việt - Việt Nam. Nhà nước Văn Lang (thời Hùng Vương) ra đời được quan niệm là một quá trình lịch sử phát triển lâu dài của cộng đồng người Việt ở Bắc Bộ, với thời gian tồn tại khoảng 2.000 năm TCN và bao gồm các giai đoạn phát triển từ sơ kỳ thời đại đồ đồng đến sơ kỳ thời đại đồ sắt.
Đây là sự phát triển tiếp nối của các nền văn hoá khảo cổ trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, bao gồm: Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn. Trong đó, văn hoá Đông Sơn là giai đoạn phát triển rực rỡ của nghề luyện kim, chế tác kim loại đồng thau. Chính sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này đã tạo nên những chuyển biến về chất của kinh tế - xã hội, tạo tiền đề quan trọng cho nhà nước Văn Lang xuất hiện. Nhà nước là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp, nó xuất hiện khi có mâu thuẫn giai cấp phát triển đến mức không thể điều hòa được.
Nhà nước xuất hiện để điều hòa các quan hệ không thể điều hòa đó. Đây là con đường điển hình xuất hiện nhà nước ở phương Tây. Trong thực tế sự hình thành nhà nước thời cổ đại trên thế giới rất đa dạng. Ba nhà nước xuất hiện thời cổ đại trên đất nước ta mặc dù có những khác biệt nhưng đều mang những đặc trưng của nhà nước phương Đông.
Sự hình thành nhà nước phương Đông có sự khác biệt với phương Tây là bên cạnh điều kiện phân hóa xã hội, ở phương Đông, do yêu cầu về thủy lợi và đấu tranh tự vệ làm cho nhà nước vốn có "chức năng xã hội" chuyển dần sang "địa vị độc lập đối với xã hội", cuối cùng "vươn lên thành sự thống trị đối với xã hội". Con đường hình thành nhà nước kiểu 25 này, ngoài phân hóa xã hội, còn có vai trò, tác động của thủy lợi và nhân tố tự vệ. Vào thời nước Văn Lang - Âu Lạc, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến tình trạng phân hóa xã hội rõ nét hơn. Tuy phân hóa xã hội chưa cao, nhưng kết hợp với hai yếu tố khác là thủy lợi và tự vệ chống ngoại xâm đã tạo nên tiền đề cần thiết cho sự hình thành Nhà nước sơ khai ở Bắc Bộ - nhà nước Văn Lang.
Đây là hình thái nhà nước cổ đại ra đời đầu tiên ở Việt Nam và thuộc loại sớm nhất của vùng Đông Nam Á. Nhà nước Văn Lang xuất hiện (trên cơ sở tập hợp 15 bộ lạc) đánh dấu một bước tiến quan trọng của lịch sử dân tộc Việt Nam. Đây là hình thái Nhà nước phôi thai còn in đậm dấu ấn của chế độ bộ lạc - công xã đang trên đường chuyển hóa từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp sơ kỳ. Nhà nước này có những đặc trưng chung của các nước phương Đông cổ đại mà Mác đã gọi là "phương thức sản xuất châu Á".
Nhà nước Văn Lang ra đời do yêu cầu phát triển nông nghiệp lúa nước kết hợp với yêu cầu tự vệ, nên trong quá trình hình thành, xu hướng liên kết, tập hợp giữ vai trò chi phối. Xã hội thời Văn Lang là hình thái xã hội đã có sự phân hóa sâu sắc nhưng chưa hình thành giai cấp đối kháng gay gắt. Sự tồn tại phổ biến và bảo lưu lâu dài công xã nông thôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Đứng đầu nhà nước Văn Lang là Hùng Vương, bên dưới có Lạc Hầu, Lạc Tướng.
Đứng đầu các công xã nông thôn (gọi là kẻ, chạ, chiềng) là Bồ Chính (Già làng); bên cạnh Bồ Chính có Hội đồng công xã giải quyết và định đoạt mọi hoạt động công xã. Quan hệ giữa nhà nước với công xã là quan hệ mang tính lưỡng hợp. Nhà nước vừa đại diện cho các công xã trong những lợi ích chung, vừa bóc lột các công xã dưới hình thức cống nạp. Quân đội thường trực cũng như các công cụ chuyên chế của nhà nước chưa phát triển.
Khi có chiến tranh, lực lượng vũ trang của công xã giữ vai trò chủ yếu. Còn trung tâm chính trị - văn hóa của nước Văn Lang nằm ở vùng Đất Tổ Phú Thọ. Nước Âu Lạc xuất hiện là bước phát triển kế tiếp và cao hơn nước Văn Lang. Sự ra đời của nước Âu Lạc là sự hợp nhất cư dân và đất đai 26 của hai bộ lạc Lạc Việt với Âu Việt.
Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong khoảng 30 năm (từ năm 208 đến năm 179 TCN); nhưng kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa đều tiến bộ hơn thời Văn Lang. Tuy vậy, nền tảng chung cho sự tồn tại, phát triển của cả nước Văn Lang và Âu Lạc là nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. Đặc điểm tình hình kinh tế Nhìn chung nền kinh tế Việt Nam thời Dựng nước có sự tiến bộ vượt bậc. Các ngành nghề đều có thành tựu đáng ghi nhận.
Tình hình cụ thể như sau: a. Thủ công nghiệp Nghề chế tác đá tiếp tục được duy trì, đạt đỉnh cao về kỹ thuật và mỹ thuật vào giai đoạn Phùng Nguyên nhưng sau đó nhường chỗ dần cho nghề luyện kim. Vào cuối thời Hùng Vương, những người thợ đá chủ yếu tập trung vào làm một số đồ trang sức từ các loại đá quý. Thành tựu nổi bật nhất về thủ công nghiệp thời này là sự xuất hiện và phát triển đạt đỉnh cao của luyện kim, chế tác kim loại.
Ngay từ đầu thời Hùng Vương (giai đoạn Phùng Nguyên), nghề đúc đồng đã xuất hiện, được duy trì, phát triển qua giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, đạt đỉnh cao về kỹ thuật và nghệ thuật ở giai đoạn Đông Sơn. Việc tạo ra đồng thau là một kỳ tích của con người. Quá trình luyện kim đồng phải trải qua nhiều công đoạn, từ việc tìm quặng, khai mỏ đến việc xây lò, nấu quặng, pha chế hợp kim, làm khuôn, rót đồng, tạo ra những vật dùng cần thiết. Bí quyết pha chế tỷ lệ đồng thiếc để chế tác ra các sản phẩm như trống đồng, thạp đồng đến nay vẫn chưa được khám phá đầy đủ.
Từ kỹ thuật luyện kim, chế tác kim loại, người Việt cổ đã tạo ra nhiều sản phẩm từ đồng, sắt phục vụ cho cuộc sống như các công cụ sản xuất, vật dùng, vũ khí, đồ trang sức. Tiêu biểu cho kỹ thuật luyện kim, chế tác kim loại thời này là trống đồng. Có nhiều loại trống đồng được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam; trong đó nổi tiếng và tiêu biểu nhất là trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, nước ta đã tìm được 117 trống đồng Đông Sơn.
Trong số trống đồng tìm được có những trống lớn, đẹp là trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ và Cổ Loa. Trống đồng Ngọc Lũ tìm 27 được ở Hà Nam có chiều cao 63 cm, đường kính mặt trống 79 cm; trống đồng Hoàng Hạ (Hoà Bình) có đường kính 79 cm, cao 61,5 cm và trống Cổ Loa cao 53 cm, đường kính 74 cm. Trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ được trang trí nhiều họa tiết đặc biệt1, phản ánh về mỹ thuật, kỹ thuật và chứa đựng nhiều thông tin về đời sống cư dân Việt cổ thời dựng nước. Riêng trống Cổ Loa (phát hiện 1982) bên trong có 200 hiện vật đồng thau, trong đó có 96 lưỡi cày đồng, trên mặt trống được trang trí gần giống với trống đồng Hoàng Hạ [Hà Văn Tấn, 2017, 41-42].
Có thể nói, đồ đồng Đông Sơn đánh dấu một bước chuyển cách mạng trong kỹ thuật luyện kim và trình độ văn minh nước ta thời cổ. Trống đồng Đông Sơn mãi là niềm tự hào của người Việt trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Trên nền tảng của nghề đúc đồng phát triển cao, nghề luyện sắt đã xuất hiện. Chứng tích của nghề này tìm thấy ở các di chỉ: Vinh Quang, Đường Mây, Chiềng Vậy (Hà Nội), Đông Sơn (Thanh Hoá).
Các công cụ sản xuất, vật dùng, vũ khí bằng sắt được chế tạo từ quặng và rèn. Bên cạnh phương pháp rèn, người thời Đông Sơn đã biết đến kỹ thuật đúc gang để chế ra rìu. Qua các hiện vật kim loại thời kỳ này cho thấy, những người thợ lành nghề đã tách ra khỏi nghề nông. Sản phẩm mà họ làm ra có giá trị cao về kinh tế, văn hoá, xã hội.
Chúng chính là những minh chứng về sự phát triển cao của thủ công nghiệp luyện kim, đúc đồng, chế tác kim loại của người Việt cổ. Những công cụ kim loại tạo ra hiệu suất lao động cao hơn hẳn so với các công cụ đá. Kết quả là chúng đã tạo nên sự biến đổi to lớn, căn bản đối với kinh tế - xã hội nước ta sau đó. Vì thế, có thể nói, sự ra đời của nghề luyện kim, chế tác kim loại có ý nghĩa như một cuộc cách mạng kỹ thuật ở nước ta thời dựng nước.
Các nghề mộc, đan lát, kéo tơ, dệt vải, đóng thuyền, nghề sơn đều có tiến bộ. Nghề mộc đã tham gia tích cực vào việc xây dựng nhà ở, sản 1 Trên mặt trống xung quanh có hình mặt trời, ở giữa là vòng tròn hình những nhóm người đội mũ cắm lông chim đang múa, thổi kèn hay rung chuông, những người giã gạo, những ngôi nhà sàn với dàn trống đồng, những đàn chim bay hay đậu. Mặt trống Ngọc Lũ còn có thêm một vành tròn hình hai bầy hươu xen giữa hai đàn chim bay. Ở tang những trống này có hình 6 chiếc thuyền, đầu và đuôi hình đầu chim.
Trên thuyền có nhiều người cầm vũ khí như giáo, cung.