LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với đặc điểm là một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, cho đầu tư mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có xu hướng ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh hầu hết các chủ thể sản xuất kinh doanh, kể cả những doanh nghiệp có quy mô lớn, còn nhiều khó khăn về nguồn vốn để triển khai thực hiện các dự án đầu tư kinh doanh thì nguồn vốn vay từ hệ thống các ngân hàng thương mại sẽ giúp phần nào khắc phục những khó khăn này. Nhưng với một ngân hàng thương mại, nguồn vốn tự có không thể đủ để đáp ứng các nhu cầu vay vốn của khách hàng vì vậy việc huy động vốn đóng vai trò rất quan trọng bởi đó là cơ sở để mở rộng và phát triển các hoạt động cung cấp tín dụng và các loại dịch vụ tài chính khác cho các khách hàng có nhu cầu.
Thực tế ở Việt Nam cho thấy, nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng tới hơn 90% trong tổng nguồn vốn. Nói cách khác, các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng và hơn hết là sự tồn tại và phát triển của ngân hàng phần lớn dựa vào nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Nhận thức được tầm quan trọng của việc huy động vốn nhằm đảm bảo nguồn vốn tín dụng cung cấp cho khách hàng, đồng thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam – một trong những ngân hàng thương mại giữ vai trò chủ lực trong việc cung cấp tín dụng cho các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã triển khai nhiều biện pháp tích cực để tìm kiếm, huy động các nguồn vốn đa dạng với chi phí hợp lý và đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự 2 khó khăn chung của các doanh nghiệp, của người lao động và cả nền kinh tế những năm gần đây, đặc biệt là áp lực phải cạnh tranh với nhiều ngân hàng khác trên địa bàn, bao gồm cả các ngân hàng nội địa và các ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức to lớn, không chỉ trong hoạt động sử dụng vốn mà còn trong cả hoạt động huy động vốn đòi hỏi ngân hàng phải tìm những giải pháp để khắc phục.
Vì lẽ đó, việc đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn của ngân hàng trong quá khứ, tìm hiểu những nguyên nhân thành công và cả nguyên nhân từ thất bại để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp tăng cường huy động vốn nhằm đáp ứng những nhu cầu hoạt động của ngân hàng là vấn đề mang tính hết sức cấp thiết. Đó là lí do tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam: Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp". Mục tiêu nghiên cứu. Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường để phân tích thực trạng của hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam thời gian qua, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế cùng những nguyên nhân của chúng, rút ra những bài học kinh nghiệm để từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp tín dụng và các dịch vụ tài chính, tín dụng khác cho khách hàng.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Hà Nam. 3 - Phạm vi nghiên cứu: + Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 đến năm 2014. Phương pháp nghiên cứu.
- Luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trong nghiên cứu, các phương pháp chính được sử dụng bao gồm: + Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic. + Phương pháp thu thập và phân tích thông tin + Phương pháp so sánh, tổng hợp. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn: + Dữ liệu nội bộ trong hệ thống BIDV.
+ Dữ liệu thu thập từ các nguồn khác như: sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, mạng Internet,.), các website và báo cáo thường niên của một số NHTM trên địa bàn. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NAM 4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Vốn và phân loại nguồn vốn của ngân hàng thương mại Vốn là một trong những tiền đề quan trọng của mọi hoạt động đầu tư kinh doanh, đồng thời, hoạt động kinh doanh thường xuyên đòi hỏi phải không ngừng được bổ sung một số lượng vốn nhất định nhằm đáp ứng các nhu cầu về tái sản xuất mở rộng, thanh toán, dự trữ,… Trong thực tế, lượng vốn kinh doanh còn được coi là nhân tố biểu hiện thế lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, có tầm quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trường. Ngân hàng thương mại cũng là một loại hình doanh nghiệp và vốn của ngân hàng thương mại cũng đóng vai trò hết sức quan trọng như các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Trong các cuốn giáo trình, bài giảng về nghiệp vụ ngân hàng thương mại của nhiều tác giả như Phan Thị Cúc (2008, 2009), Phan Thị Thu Hà (2009), Nguyễn Minh Kiều (2011), Nguyễn Thị Ngọc Loan (2010)… thì vốn của ngân hàng thương mại có thể được hiểu là những giá trị tiền tệ ngân hàng tự có, huy động và tạo lập được để thực hiện cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng.
Cũng theo các tác giả, điểm đáng chú ý ở đây là vốn đối với các ngân hàng không chỉ đơn thuần phục vụ cho việc thực hiện các thanh toán chi trả, mua nguyên vật liệu như một doanh nghiệp bình thường mà nó là đối tượng trực tiếp của hoạt động ngân hàng, là một loại hàng hóa, là phương tiện hoạt động của các ngân hàng và nhu cầu về vốn của các ngân hàng nói chung là 5 rất lớn. Chính vì vậy, mặc dù vốn tự có có thể là rất lớn nhưng thực tế, vốn của ngân hàng thương mại chủ yếu dựa vào nguồn vay mượn từ các doanh nghiệp, các cá nhân… để cung ứng dịch vụ tín dụng và các dịch vụ khác cho các đối tượng khách hàng. Nói khác đi, nguồn vốn vay mượn đã tạo nguồn lực tài chính chủ yếu cho các hoạt động của ngân hàng thương mại. Vốn của ngân hàng thương mại có từ nhiều nguồn khác nhau và có thể được phân thành các loại sau: * Vốn tự có (vốn chủ sở hữu) là nguồn vốn do ngân hàng thương mại tự tạo lập ra, thuộc sở hữu riêng có của ngân hàng.
Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng. Tuy nhiên, nguồn vốn này có đặc điểm là thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng 5 - 10%) nhưng lại có tính ổn định cao (vì nó thuộc sở hữu của ngân hàng thương mại và ngân hàng thương mại không có nghĩa vụ phải hoàn trả) và không ngừng gia tăng. Nguồn hình thành của loại vốn này bao gồm: i) Vốn chủ sở hữu khi ngân hàng mới thành lập ii) Nguồn vốn bổ sung hàng năm từ lợi nhuận kinh doanh, từ vốn góp thêm của chủ sở hữu. Vốn thuộc sở hữu của ngân hàng thương mại bao gồm vốn điều lệ và các quỹ với các mục đích sử dụng cụ thể.
Vốn điều lệ của ngân hàng trước hết được dùng để xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay trung và dài hạn. 6 Các quỹ dự trữ của ngân hàng là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm:. Quỹ dự trữ: được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều lệ. Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắp rủi ro, thua lỗ trong hoạt động của ngân hàng.
Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ. Quỹ khen thưởng phúc lợi. Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ. Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
* Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động có các đặc điểm sau: - Không thuộc sở hữu của ngân hàng thương mại. - Có tính biến động cao, không ổn định (cần phải dự trữ) - Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. - Đa dạng về nguồn gốc hình thành, thời hạn các khoản huy động, giá trị các khoản huy động, loại tiền huy động.
Vì là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại nên nó có thể đáp ứng hầu hết các nhu cầu về hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Nguồn hình thành của loại này bao gồm: 7 .