Mở đầu từ việc Vatco de Gama vòng qua châu Phi tìm đường biển thông Tây Âu sang Ấn Độ, tiếp đó Critxtop-Colombo đã phát hiện ra châu Mỹ, giúp cho người châu Âu có cơ hội tiến vào châu Mỹ. Việc phát hiện ra những mỏ vàng ở châu Mỹ (chủ yếu là Mehico và Peru) làm cho mậu dịch thế giới phát triển mạnh mẽ, giúp các nước Tây Âu những khả năng lớn để làm giàu. Hoạt động chuyển vàng từ châu Mỹ sang châu Âu, việc cướp bóc vùng Đông Âu và các dân tộc ở châu Á, châu Mỹ và châu Phi, biến người bản xứ thành nô lệ, việc buôn bán người da đen, chiến tranh cướp bóc thuộc địa và chiến tranh thương mại đã thúc đẩy thương nghiệp thế giới phát triển mạnh mẽ. Từ chỗ thương nghiệp chỉ đóng vai trò môi giới giữa những người sản xuất nhỏ, thì sự phát triển mới của sản xuất hàng hoá đã tạo ra ưu thế cho thương nghiệp, thương nghiệp chi phối công nghiệp và 16 nông nghiệp.
Người ta thu được những món lời lớn do cướp bóc thuộc địa và thương mại. Để thúc đẩy phát triển chủ nghĩa tư bản, phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhiều vốn, trong điều kiện sản xuất chưa phát triển nên khả năng tích lũy từ sản xuất hạn chế, nên người ta buộc phải hướng vào thương nghiệp (thương mại). Để giải quyết những vấn đề cấp bách trong sự phát triển kinh tế, đáp ứng mục đích làm giàu bằng hoạt động thương mại của giai cấp tư sản đang hình thành và có thế lực ngày càng lớn, những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã kịp thời khái quát kinh nghiệm và đề ra cương lĩnh có tính lý luận. Như vậy, trường phái Trọng thương xuất hiện.
Trong bối cảnh đó, hoạt động thương mại - đặc biệt là ngoại thương đã trở thành ngành được đề cao nhất trong hoạt động kinh tế của các quốc gia. QUAN ĐIỂM KINH TẾ CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG 2. Quan điểm về của cải Tư tưởng xuất phát của trường phái Trọng thương là sùng bái tiền tệ, đồng nhất tiền tệ với của cải, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải, quốc gia càng nhiều tiền càng giàu. Những chuyển biến trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Tây Âu thời kỳ này đã tác động và tạo ra cơ sở khách quan cho các tư tưởng trọng thương, mà bắt đầu từ những tư tưởng về của cải.
Các nhà trọng thương ban đầu phải xác định được của cải là gì? sinh ra ở đâu và từ đó mới tìm cách tăng nguồn của cải này lên. Trước đây, các nhà tư tưởng Cổ đại coi các tư liệu sinh hoạt (những giá trị sử dụng cụ thể) là của cải và sự giàu hay nghèo đều được xác định bằng sự sung túc hay thiếu thốn về tư liệu sinh hoạt. Còn các nhà triết gia kinh viện Trung cổ thì mải mê tìm kiếm sự công bằng xã hội thông qua những lời giáo huấn luân lý đạo đức mang đậm màu sắc kinh thánh. Đối với các nhà trọng thương, cách nhìn nhận hiện thực về của cải như vậy đã trở thành xuất phát điểm để các nhà trọng thương xây dựng toàn bộ hệ thống lý thuyết của mình và tạo nên học thuyết kinh tế đầu tiên trong lịch sử các học thuyết kinh tế.
17 Lý do đầu tiên khiến cho các nhà trọng thương để cao tiền tệ được xuất phát từ thực tế phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền sản xuất hàng hóa Tây Âu thời điểm đó. Trong kinh tế tự nhiên với bản chất là tự cung tự cấp, đại bộ phận sản phẩm làm ra để phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng cá nhân, nhu cầu về các giá trị sử dụng cụ thể. Các sản phẩm này không mang hình thái hàng hóa. Chúng không phải tạo ra để mua bán, trao đổi.
Khi kinh tế hàng hóa xuất hiện và phát triển ở mức độ cao, thị trường phát triển. Khi vị trí của trao đổi được khẳng định trên thực tế thì tiền tệ với tư cách là hình thái nổi bật nhất của giá trị, cũng được nhấn mạnh. Nền sản xuất hàng hóa càng phát triển thì sức mạnh của giá trị trao đổi càng được củng cố, tiền tệ càng hoàn thiện các chức năng của nó và được thần thánh hóa như là tiêu chuẩn căn bản của của cải theo quan điểm của các nhà trọng thương. Bên cạnh đó, căn nguyên dẫn đến việc tiền tệ được đề cao là tiêu chuẩn căn bản của của cải còn xuất phát từ đặc điểm của quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản, quá trình này được biểu hiện ra thực tế là quá trình tập trung tiền tệ.
Việc khai thác vàng và bạc từ những vùng đất mới đã củng cố vững chắc vị thế của vàng và bạc trong đời sống hiện thực của các nước Tây Âu (người ta ước tính lượng vàng đã tăng lên gấp 3 lần, lượng bạc tăng lên gấp 12 lần những gì Tây Âu có được trước đó). Điều này làm cho những đặc quyền của tầng lớp quý tộc phong kiến mất hết ý nghĩa thực tiễn. Sự bành trướng này của tư bản khiến cho vàng, bạc một lần nữa được lý tưởng hóa trong nhận thức và đời sống hiện thực. Các nhà trọng thương đã quan niệm tiền tệ là của cải, thực tế họ đã đánh đồng của cải của một dân tộc với lượng kim loại quý dự trữ ở trong nước.
Như vậy, tiền tệ theo cách hiểu của các nhà trọng thương được thể hiện dưới dạng của các kim loại quý như vàng, bạc (tiền kim loại). Của cải được xem xét dưới dạng của cải cải của quốc gia, dân tộc, quan tâm đến sự giàu có của quốc gia, chứ không phải cá nhân. Họ cho rằng, mức độ hoạt động của một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào khối lượng và tốc độ lưu thông của tiền tệ. Sự tăng lên của khối lượng tiền tệ sẽ dẫn đến sự tăng lên trong mức sản lượng thực tế.
Khi khẳng định vai trò rất quan trọng của tiền tệ như vậy và bàn sâu hơn về phương thức làm tăng khối lượng tiền tệ ở mỗi quốc gia, các nhà trọng thương đã phát triển hệ thống 18 lý luận về thương mại, đặc biệt là ngoại thương. Đến giai đoạn sau, các nhà trọng thương cũng đã ít nhiều cảm nhận được rằng, khối lượng tiền tệ dự trữ của một nước nhiều hay ít sẽ chẳng đem lại kết quả nào quan trọng sau khi mức giá đã được điều chỉnh theo số lượng tiền tệ. Nhìn chung, các nhà trọng thương còn hiểu đơn giản về khả năng ảnh hưởng của những thay đổi trong khối lượng tiền tệ đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung2. Quan điểm về thương mại Khi đã xác định tiền tệ là tiêu chuẩn căn bản của của cải, các nhà trọng thương đã đi sâu tìm kiếm nguồn gốc sinh ra của cải và phương thức làm tăng khối lượng tiền tệ.
Xuất phát từ đây, các quan niệm về thương mại hình thành. Tập trung phát triển hệ thống lý luận về thương mại là điểm đặc thù nhất của trường phái Trọng thương. Họ là những người đề cao vai trò của tiền tệ và tích lũy tiền. Nhưng do tiền tệ được biểu hiện rõ nhất ở trong lưu thông, trong thương mại.
Nên họ cho rằng chỉ có thương mại mới là nguồn gốc tạo ra của cải và khả năng tăng trưởng của một nền kinh tế chỉ có thể có được thông qua hoạt động thương mại. Theo trường phái Trọng thương, thương mại là hòn đá thử vàng đối với sự phồn vinh của một quốc gia, ngoài thương mại ra thì không có một phép lạ nào khác có thể tạo ra của cải. Ai làm chủ được nền thương mại quốc tế thì người đó làm trọng tài cho chiến tranh và hòa bình. Với quan niệm như vậy, các nhà trọng thương đã đưa lĩnh vực thương mại hay rộng hơn là lĩnh vực lưu thông trở thành đối tượng nghiên cứu trực tiếp của mình.
Để tích lũy của cải, tích lũy tiền thông qua hoạt động thương mại, các nhà trọng thương đã tập trung đưa ra hàng loạt các chính sách điều tiết lưu thông, hướng tới xây dựng một bảng cân đối thương mại xuất siêu hay còn được gọi là cán cân thương mại thuận lợi. Trên thực tế, các nhà trọng thương ban đầu chỉ chú ý tới việc điều tiết lưu thông tiền tệ nhằm giữ khối lượng tiền tệ có ở trong nước. Nhưng về sau họ đã tập trung điều tiết cả lưu thông hàng hóa nhằm gia tăng chứ không chỉ giữ nguyên khối lượng tiền tệ trong nước. Để tạo ra cán cân thương mại thuận lợi, tức là cán cân có thể đem nhiều tiền tệ về cho đất nước, các nhà trọng thương đã khuyến khích xuất khẩu nhiều hơn 2 Phạm Văn Chiến, Nguyễn Ngọc Thanh (2010), Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nxb.
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr 65-66. Về vấn đề này, các nhà trọng thương rất khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu thô giá rẻ sau đó đưa vào chế biến và xuất khẩu thành phẩm. Trên thực tế các nhà trọng thương không hề quan tâm đến cơ sở hoạt động của hoạt động thương mại giữa các quốc gia, nhất là cơ sở khác biệt về lợi thế giữa các quốc gia này3.1 Có lẽ tóm tắt súc tích nhất các nguyên tắc chủ nghĩa trọng thương là do Philip Wilhelm Von Hornick cung cấp. Ông là một luật sư người Áo ấn hành tuyên ngôn chủ nghĩa trọng thương năm 1684.
Bản kế hoạch của Von Hornick về địa vị quốc gia nghe có vẻ là chủ đề độc lập và kho báu. Chính nguyên tắc kinh tế quốc gia quan trọng theo ông gồm: 1 - Mỗi tấc đất trong nước phải sử dụng cho nông nghiệp, khai khoáng hay sản xuất công nghiệp; 2 - Mọi nguyên liệu thô phát hiện trong nước đề sử dụng để sản xuất trong nước, vì hàng thành phẩm có giá trị cao hơn nguyên liệu thô; 3 - Khuyến khích có nhiều người trong độ tuổi lao động; 4 - Cấm đoán xuất khẩu vàng, bạc và tất cả tiền tệ trong nước phải đem ra lưu thông; 5 - Nơi nào bắt buộc phải nhập khẩu thì phải nhập khẩu trước để trao đổi hàng hóa trong nước thay vì trao đổi vàng, bạc; 6 - Hàng nhập có thể giới hạn ở nguyên liệu thô để sản xuất hàng thành phẩm trong nước, càng nhiều càng tốt; 7 - Phải luôn tìm kiếm cơ hội để bán sản phẩm thặng dư trong nước ra nước ngoài, càng xa càng tốt, để đổi lấy vàng, bạc. 8 - Không được phép nhập khẩu nếu hàng hóa đó đã có đủ và trong nước có thể cung cấp.