Chương I ĐẠI CƯƠNG 1 i “TÍNH CHAT CẤM QUAN THỰC PHẨM Thực pham | là một loại sản phẩm, như đúng tên gọi của nó là sản phẩm dùng để ăn, ud 8. Pham những sản. 'phậm dùng để ăn uống thì việc đánh giá, lựa chọn và sử dụng nó trước hết : được, xác định trực quan thông qua các cơ quan cảm giác. Các lính chất nhận biết được bằng các cơ quan cảm giác được gọi là các tính chất cảm quản.
Các tính chất cảm, quan của "thực phẩm chiếm vị trí rất quan trọng đổi với chất lượng của một sản ,phẩm | thực pham, Cac tinh chat do bao gom: : s Tinh chất về màu sắc, hình thái là các tính chất nhận biết được bằng mắt. Các tịnh chat này được cảm nhận ngay từ khitiếp xúc với sản phẩm. Chúng gợi lên một sự šo sánh và lựa chọn đầu tiên đối với một sản phẩm thực phẩm. Chính vì _ vậy mau sắc, hình dạng và, cấu trúc (thông qua SỐ, nắn) đóng vai trò khá quan _ trong trong lựa chọn thức phẩm.
Tính chất về cầu trúc'của sản phẩm được nhận biết bởi xúc e giác (ngón tay, lưỡi, vòm miệng) hay thính giác khi ta sờ nắn, nhai sản phẩm. Đây là các tính “chat nhự rắn, mềm; mịn, nhớt; giòn, độ đồng đều. ° Tính chất về mùi là các tính chất nhận biết được bằng khứu, giáce khi chúng ta tiếp xúc gần với sản phẩm, nhất là trong khi ăn, uống. Tính chất mùi đóng vai 5; trò quan trọng tr ong việc xác định các tính chất đặc trưng của sản phẩm, là một “trong số những tính chất hiện vẫn chưa thể kiểm tra hay đo đạc bằng thiết bị và nó tác động, nhiều đến quyết định có sử dụng sản phẩm đó hay không.
Đôi khi - 'các tính chất cảm quan khác được coi, là. tốt nhưng có mùi lạ hạy không đặc ‘tt ưng cho sản phẩm lựa chọn thì sản phẩm đó sẽ không được chấp nhận.vị và mùi-vị là các-tính chất nhận biết được trong miệng khi ăn „ hoặc udng, san pham. Tính: chất mùi-vị là các-tính chất nhận biết được trong ::. miệng khi ăn hoặc uống sản phẩm.
Tỉnh chất mùi-vị giữ vai trò quan trọng nhất bởi nó biểu thị bản chất của sản phẩm, nó gợi lên cho fa biết thành | phan hóa học của sản phẩm. Hoặc nói khác đi, các tính chất vị và mùi-vị là thể hiện ra bên ngoài của các thành phân hóa học bến trong, của sản phẩm và nó mang tính quyết định trong việc người tiểu đùng có chấp nhận sản phẩm đó hay không? Tất cả những tính chất trên đây có thể đo đạc được bang các cơ quan cảm giác, thậm chí có tính chất chỉ có thể đo và xác định được bằng các cơ quan cảm giác (như tính chất mùi và mời-vị). Các hoạt động đó cho phép chúng ta hiểu biết, so sánh và lựa chọn san phẩm và được gọi là Đánh giá cảm quan hay Phân tích cảm quan mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau đây. DANH GIA CAM QUAN LA Gi? 1.
Định nghĩa Đánh giá cảm quan là kỹ thuật sử dụng các cơ quan cảm giác của con.người để nhận biết, mô tâ và định lượng các tính chất cảm quan của một sản phẩm như màu sắc, hình thái, mùi, vị và cầu trúc. Chúng tôi trích dẫn thêm ở đây một định nghĩa nữa để độc giả tham khảo. “Đánh giá câm quan là một phương pháp khoa học dùng để gợi lên, đỏ đạc, phần tích và giải thích những thông | tin thu duoc tir san pham thông qua cảm nhận của các giác quan: thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác và thính giác” (Sione & Sidel- ASTM) Trong phân tích cảm quan, các giác quan của con người được sử dụng như một công cụ đo. Chúng nhận nhiệm vụ thụ nhận thông tỉn như màu sắc, mũi, ởj, qua phân tích, xử lý và đưa ra kết quả dưới dạng các giá trị ước lượng, so sánh va mé ta.
Đánh giá một chỉ tiêu chất lượng nảo đó có nghĩa là “ước lượng” bằng giá trị của chỉ tiêu đó khi nó có nhiều trạng thái phân biệt. Người ta có thể gắn cho cac trạng thái này một giá trị và như vậy chúng trở thành những đại lượng đo được. Trong đánh giá cảm quan, các đại lượng được sử dụng dưới dạng “thang” tương ứng với các biến mà chúng ta sử dụng: biến danh nghĩa, biến thứ tự, biến khoảng và biến quan hệ. ' Các kết quả phân tích hay đánh giá cảm quan này chỉ có giá trị khi đã được xử lý bằng các phương pháp toán thống kê.
Đánh giá cảm quan có thể được ứng dụng trong một số lớn lĩnh vực, ví dụ như sản xuất các sản phẩm thực phẩm, mỹ phẩm, nước hoa và ngay cả trong sản xuất giấy, hay thiết bị nghe nhìn. thực phẩm, một mặt cần phải nắm rố cáo đặc tính và cáo tiểu chuẩn kỹ thuật của các sản phẩm. Chúng sẽ được nói tới trong các tài liệu về sản xuất hay trong các tài liệu liên quan tới các tiêu chuẩn cửa sản phẩm thực phẩm. Mặt khác, người làm thí nghiệm.
và các thành viên liên quan phải biết các thông số hoạt động của hệ thống giác quan. Các cấu trúc và hoạt động của hệ thống giác quan sẽ được mô tả chỉ tiết trong chương hai của giáo trình này.- Hiểu biết về các phép kiểm tra cảm quan và về cách thức xử lý các dữ liệu thô bằng phương tiện xử lý thông kê thích hợp là yêu cầu cơ bản để thu được các kết quả cảm quan thích đáng. Các loại đại lượng thường gặp trong đánh giá cảm quan” : Như bất cứ một phép đo bằng công cụ nào, phép đo-cảm quan cũng phải đảm bảo chính xác và có khả năng tái lập. Các yêu câu đối với mội dụng cu do Đó là dụng cụ đo phải đưa ra được kết quả trúng thực, có độ nhạy cao, đúng dan và chính xác.
Tập hợp các yêu cầu nảy tạo nên độ tin cậy của công cụ đo. Vậy độ tin cậy được biêu thị qua: Tính trung thực là “khả năng đưa ra các kết quả đo có. sự sai khác không đáng kế khi tiên hành các phép đo trên cùng một giá trị, của đại. Tỉnh trung thực còn được thể hiện qua khả năng lặp và khả năng tái lập của một céng | cu do.
Tinh đúng đắn của một công cụ đo đặc trưng cho khả năng đo được các kết qua. mà giá trị trung bình của chúng rất gần với giá trị thực của đại lượng cần đo. Độ chính xác của một công cụ đo là khả năng đo được các kết quả riêng biệt rất gần với giá trị thực của đại lượng cần đo. Để loại trừ khả năng thiếu chính xác, / người ta thực hiện công tác kiểm định, nghĩa là bằng cách so sánh với một hay một .số mẫu chuẩn {ví dụ: cân đúp).
: : : Độ nhạy là “thương số giữa độ biến thiên của giá trị đo được của một công cụ đo với độ biến thiên của đại lượng cần đo tương ứng”; nó,thể hiện độ lệch nhỏ nhất mà máy đo có thể phân biệt giữa hại giá trị của một đại lượng, hay giá trị nhỏ nhất mà máy đo có khả năng nhận” biết. Nếu có hàm số y= f(x) thì đệ nhạy k= dy/dx. Một đại lượng c cóó thể biểu hiện dưới ba dạng thức: Đại lượng danh nghĩa: đại lượng được nhận dạng đơn giản bởi một danh từ đặc trưng. Ví dụ: kẹo A có vị bạc hà, kẹo B có vị dâu, kẹo C có vị mơ.
Các đại lượng danh nghĩa không định vị cũng như không đo được. Quan hệ duy nhất có thể gắn với các đại lượng này là quan hệ tương đương (x= ý hayx zy). Đại lượng thứ: bậc: đại lượng được xác định trọng quan hệ với đại lượng cùng loại thông qua sự phân bồ cấp bậc.A ngọt hơn mứt B và loại này lại ngọt hơn mứt C. đại lượng thứ tự có thể định vị được nhưng không đo được.
Các quan hệ có thể gắn với các đại lượng này là cáo quan hệ tương đương (x=y.hay x# » va bat ding (x<yhay. | Đại lượng hữu tỷ: đại lượng được xác định trong mối quari hệ với các:đại lượng cùng loại thông qua sự phân bố của một số hữu tỷ. Ví dụ: trọng lượng bánh gatô A. B,C lân lượt là: 195g, 200g, 190g.
Các đại lượng hữu tỷ có thể định vị cũng như là đo được: Các mối quan hệ có thể gắn với các đại lượng này là các quan hệ tương đương (x = y.hay x z y), bất đẳng (x<y hay x > y), quan hé céng hop. Các thang đo trong đánh giá cảm quan Trong đánh giá cảm quan; thang do chỉ gồm các số dương và số không. Các thang đo cường độ phổ biển trong đánh giá cảm quản là: Thang chúng loại: được cầu thành từ các chủng loại được xác định thông qua các c con số, từ ngữ hay các hình vẽ. Thang chia khoảng: là một loại thang dùng để định vị tùy chọn với các khoảng trên thang đồng đều.
Nó có thể là thang có cấu trúc: (hang có chia độ) hoặc không có câu trúc (thang là một đoạn thẳng). Thang tỉ lệ: sử dụng với mục đích thể -hiện tỉ lệ giữa cường độ của hai cảm giác (trong đó cường độ cảm giác ứng với mẫu chuẩn đã biết). 4 Khải niệm mẫu trong đánh BSiá cảm quan Khi muốn đánh gid cường độ của một đại lượng cảm quan nào đó trên một nhóm sản phẩm, người ta yêu cầu người thử “gán” cho mỗi sản phẩm một ‘Bia tr số học tương ứng với cường độ của cảm giác nhận được. Để làm được điều này, người thử phải được cung cấp mẫu để so sánh.
Có hai đạng mẫu được sử dụng là: mẫu pha chế và mẫu sản phẩm. Các bước tién hành So sánh: không phải lúc nào cũng có ‘thé tién hanh mot phép do dé tìm hiểu về một sai khác rất nhỏ giữa hai sản phẩm về một tính chất cảm quan nao dé. Một phép thử được tiến hành với mục đích yêu cầu người thử đánh giá sự khác biệt có thể có giữa hai sản phẩm. Bằng ` việc lặp lại một số lần đáng kể phép thử này có thể dẫn tới kết luận về khả năng tồn tại sự khác biệt giữa hai sản phẩm nghiên cứu.
Phân loại: là phương pháp dùng để đánh giá cường độ một tính chất hay tiêu chí cảm quan thông qua thang thứ bậc: Tính chất:hay tiêu chí nảy phải là một đại lượng đơn giản và sự sai khác của chúng giữa các sản phẩm phải tương đối rõ nit.