CHƯƠNG 1 – TỔNG QIAN VỀ KIỂM TOÁN Mã chương: 2601 Mục tiêu: - Trình bày được những kiến thức tổng quát về kiểm toán gồm: khái niệm, chức năng, ý nghĩa, mục đích, phân loại trong kiểm toán - Thực hiện và phân tích được những chức năng và các loại kiểm toán trong qua trình kiểm toán - Tuân thủ được những nguyên tắc của kiểm toán: Thật thà, trung thực Nội dung: 1. Khái niệm kiểm toán 1. Các quan điểm về kiểm toán □ Thông tin trên báo cáo tài chính, tài liệu kế toán thường có rủi ro sai lệch lớn so với thực tế phát sinh, một số lý do thường gặp: - Do thiếu thông tin để xác minh; - Phụ thuộc vào đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên khi xử lý chứng từ, hạch toán nghiệp vụ kinh tế phát sinh; - Do yếu tố thời gian dẫn đến một số trường hợp không kiểm chứng được tài liệu kế toán, báo cáo tài chính được cung cấp; - Do ảnh hưởng bởi mục đích cung cấp thông tin, ví dụ cung cấp để tính thuế, cung cấp để vay ngân hàng, báo cáo với cổ đông …; - Dữ liệu, sự kiện quá nhiều; - Tính phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế… □ Vậy để làm giảm rủi ro khi tiếp nhận thông tin kế toán, báo cáo tài chính, thông thường người sử dụng thông tin sử dụng các phương pháp sau để giảm thiểu sự khác biệt giữa thông itn trên báo cáo và thông tin thực tế: - Người sử dụng thông tin tự kiểm tra các thông tin; - Người sử dụng thông tin chia sẻ rủi ro thông tin cùng với người cung cấp thông tin; - Sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán, kiểm tra và xác nhận một cách độc lập □ Xã hội càng phát triển, thông tin cung cấp càng phức tạp thì sự đảm bảo độ tin cậy các thông tin bằng kiểm toán ngày càng cần thiết. Vì vậy, cần thiết khách 8 quan phải có hoạt động kiểm toán.
Khái niệm kiểm toán - Kiểm toán là một quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập. - Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán. - Kiểm toán viên là người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của pháp luật hoặc người có chứng chỉ của nước ngoài được Bộ Tài chính công nhận và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam.
- Kiểm toán viên hành nghề là kiểm toán viên đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán. - Thành viên tham gia cuộc kiểm toán bao gồm kiểm toán viên hành nghề, kiểm toán viên và các thành viên khác. - Doanh nghiệp kiểm toán là doanh nghiệp có đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. - Đơn vị được kiểm toán là doanh nghiệp, tổ chức được doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam thực hiện kiểm toán theo hợp đồng kiểm toán.
Các chức năng của kiểm toán 2. Chức năng xác minh - Hoạt động kiểm toán độc lập nhằm góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán và doanh nghiệp, tổ chức khác; làm lành mạnh môi trường đầu tư; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng; phát hiện và ngăn chặn vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Mục đích tổng quát của kiểm toán là cung cấp sự đảm bảo cho bên thứ ba là những người sử dụng các thông tin tài chính rằng các thông tin họ được cung cấp có trung thực, hợp lý hay không. - Đối với Ngân hàng, những đối tượng cho vay vốn, họ cần biết rằng số vốn 9 họ cho vay có được sử dụng đúng mục đích hay không, tình hình tài chính của đơn vị có cho thấy khả năng hoàn trả hay không.
- Đối với cơ quan thuế, căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để tính và thu thuế, tương tự, đối với các cơ quan chức năng cũng căn cứ vào báo cáo tài chính được kiểm toán để thực hiện chức năng của mình. - Đối với doanh nghiệp được kiểm toán mong muốn, thông qua kiểm toán, có được báo cáo tài chính phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), phát hiện và ngăn ngừa các sai sót và gian lận. - Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, các cổ đông họ cần biết một cách đầy đủ, đúng đắn về kết quả kinh doanh,. - Tóm lại, kiểm toán phải mang lại sự thoả mãn cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự tin cậy, mức độ trung thực của các thông tin tài chính mà họ được cung cấp.
Chức năng bày tỏ ý kiến - Được Kiểm toán viên xác định phù hợp với yêu cầu của luật pháp, nội dung Hợp đồng kiểm toán và đặc điểm của đơn vị được kiểm toán. - Để có kết luận chính xác phạm vi kiểm toán phải rộng. Nhưng nếu phạm vi kiểm toán mở rộng đến mức không hạn chế vẫn có thể có rủi ro vì bản chất của kiểm toán, hạn chế vốn có của công tác kiểm toán, hạn chế cố hữu của HTKSNB. - Phạm vi của kiểm toán có thể bị hạn chế do: □ DN áp đặt: các điều khoản của Hợp đồng kiểm toán qui định.
Lẩn tránh hoặc từ chối trả lời thông tin. □ Do hoàn cảnh: hạn chế về thời gian nên không trực tiếp kiểm kê tài sản được,. Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán 3. Kiểm toán góp phần tạo niềm tin cho những người quan tâm Là sự phát sinh thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chia làm 2 loại: □ Những sự kiện kinh tế phát sinh trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp.
Ví dụ: Mua hàng nhập kho; Bán hàng thu bằng tiền mặt; Chi phí chi bằng tiền; * Đặc điểm: - Các nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh mang tính khách quan và pháp lý cao vì nó 1 0 thường kèm theo những chứng từ bắt buộc (như phiếu xuất kho, hoá đơn giao hàng. Nghiệp vụ này rất khó gian lận. - Các nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh luôn tác động đến phương trình kế toán cơ bản (Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu). Các nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh đều được phản ánh vào báo cáo tài chính.
□ Những sự kiện kinh tế phát sinh trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp. Ví dụ: Bảng tính và trích khấu hao TSCĐ; Bảng tính và trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho; Bảng tính và trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi; Bảng tính và trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính; Xuất hàng từ kho ra quầy; xuất thiết bị cần lắp vào ĐTXDCB; … * Đặc điểm: - Các nghiệp vụ kinh tế này có tính pháp lý thấp, mang nặng tính chất chủ quan bởi nó được phản ánh trong chứng từ hướng dẫn, chứng từ nội bộ. - Không phải tất cả nghiệp vụ kinh tế nội sinh được phản ánh trên báo cáo tài chính. - Giao dịch là sự kiện kinh tế đã được công nhận để xử lý bởi hệ thống kế toán của doanh nghiệp.
- Hệ thống là các công việc mà nhờ đó các giao dịch được công nhận, cho phép và xử lý. - Mối tiếp giáp là đầu mối mà tại đó một giao dịch xuất khỏi hệ thống này được nhập vào hệ thống khác. - Ví dụ: Thông tin về số giờ làm công chuyển từ hệ thống quản lý lao động sang hệ thống thanh toán lượng, thông tin giao hàng được chuyển từ hệ thống phiếu xuất hàng sang hệ thống dự trữ để ghi chép, phản ánh vào các tài khoản tồn kho. - Cơ sở số liệu là tập hợp các thông tin có được từ việc xử lý các giao dịch.
- Cơ sở số liệu gồm có số liệu thống kê, số liệu động thái. □ Số liệu thống kê được sử dụng vì mục đích thông báo trong xử lý giao dịch hoặc để lập báo cáo như thông tin về tên, địa chỉ trên hồ sơ gốc của người bán, người mua, đơn giá bán. □ Số liệu động thái là các thông tin được ghi chép, lưu trữ, cộng dồn và cập nhật trong quá trình xử lý giao dịch. - Cơ sở dẫn liệu là toàn bộ nguồn tài liệu để thu thập bằng chứng kiểm toán bằng các phương pháp khác nhau bao gồm những khoản giải trình của các nhà quản lý 1 1 về các khía cạnh của các bộ phận cấu thành trong báo cáo tài chính mà kiểm toán viên phải tìm kiếm các bằng chứng để làm cơ sở cho ý kiến nhận xét về từng bộ phận cấu thành nó.
Cơ sở dẫn liệu của BCTC phải có các tiêu chuẩn sau: □ Hiện hữu: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC thực tế phải tồn tại (có thực) vào thời điểm lập báo cáo; □ Quyền và nghĩa vụ: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên BCTC đơn vị phải có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo; □ Phát sinh: Một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải đã xảy ra và có liên quan đến đơn vị trong thời kỳ xem xét; □ Đầy đủ: Toàn bộ tài sản, các khoản nợ, nghiệp vụ hay giao dịch đã xảy ra có liên quan đến BCTC phải được ghi chép hết các sự kiện liên quan; □ Đánh giá: Một tài sản hay một khoản nợ được ghi chép theo giá trị thích hợp trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận); □ Chính xác: Một nghiệp vụ hay một sự kiện được ghi chép theo đúng giá trị của nó, doanh thu hay chi phí được ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và đúng về toán học. □ Trình bày và công bố: Các khoản mục được phân loại, diễn đạt và công bố phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận).