CHƯƠNG 1. QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Mục tiêu: Sau khi học chương này, người học có thể: Mục tiêu tổng quan Mục tiêu cụ thể Nội dung chương • O1.1: Biết nội dung 1.1 Lập kế hoạch và • G1: Biết nội dung thực hiện ở giai kiểm toán các công việc ở - Tìm hiểu KH đoạn 1 - lập kế các giai đoạn của - Đánh giá rủi ro hoạch và kiểm toán cuộc kiểm toán, - Xác lập mức trọng • O1.2: Biết nội dung qua đó vận dụng yếu thực hiện ở giai để xây dựng kế - Xây dựng kế hoạch đoạn 2 - thực hiện kiểm toán hoạch kiểm toán thử nghiệm kiểm - Xây dựng chương và chương trình soát và thử nghiệm trình kiểm toán kiểm toán. chi tiết về nghiệp 1.2 Thực hiện thử vụ. nghiệm kiểm soát và thử nghiệm chi tiết về • O1.3: Biết nội dung nghiệp vụ thực hiện ở giai 1.3 Thực hiện phân tích đoạn 3 - thực hiện và thử nghiệm chi tiết phân tích và thử về số dư nghiệm chi tiết về số dư.4 Hoàn thành kiểm toán • O1.4: Biết nội dung - Tổng hợp, Đánh giá thực hiện ở giai đoạn 4 - hoàn thành kiểm toán.
Giáo trình Kiểm toán báo cáo tài chính - 2 Thiết kế quy trình kiểm toán là bước quan trọng để kiểm toán viên làm căn cứ thực hiện cuộc kiểm toán. Trước khi biết thiết kế các giai đoạn trong quy trình học viên cần xem lại và hiểu rõ các loại thử nghiệm trong kiểm toán (còn gọi là các thủ tục hay phương pháp kiểm toán), biết chọn lựa thử nghiệm để vận dụng vào từng giai đoạn hay khoản mục cụ thể. Biết xây dựng mục tiêu kiểm toán cho từng chu trình hay khoản mục cụ thể. Quy trình kiểm toán bao gồm bốn giai đoạn: 1) Lập kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán; 2) Thực hiện thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm chi tiết về nghiệp vụ; 3) Thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết chi tiết số dư; 4) Hoàn thành kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán O1.1 Trong giai đoạn lập kế hoạch và xây dựng chương trình kiểm toán có tám công việc kiểm Biết các nội dung toán viên phải thực hiện, các nội dung công việc thực hiện ở giai đã được tóm tắt trong Sơ đồ 1.1, chi tiết các nội đoạn lập kế hoạch dung được trình bày lần lượt dưới đây. kiểm toán Chấp nhận khách hàng và lập kế hoạch sơ bộ Trước khi lập kế hoạch sơ bộ về cuộc kiểm toán, kiểm toán viên xác định có nên chấp nhận kiểm toán cho một khách hàng mới hay là tiếp tục kiểm toán cho khách hàng cũ. Quyết định này thường được thực hiện bởi ban giám đốc đơn vị kiểm toán và kiểm toán viên có kinh nghiệm. Kiểm toán viên phải thực hiện công việc này đầu tiên, trong đó kiểm toán viên xác định lý do tại sao khách hàng muốn hoặc có nhu cầu kiểm toán.
Thông tin này có khả năng ảnh hưởng đến các giai đoạn còn lại của quy trình kiểm toán. Mặt khác để tránh hiểu lầm kiểm toán viên cần phải có sự hiểu biết về các điều khoản của hợp đồng khi tham gia kiểm toán, trước khi phát sinh thêm khoản chi phí mà sau này sẽ không điều chỉnh được trên hợp đồng kiểm toán. Giáo trình Kiểm toán báo cáo tài chính - 3 Kiểm toán viên xây dựng sơ bộ về chiến lược tổng thể cho cuộc kiểm toán, bao gồm có kế hoạch về sự tham gia của các thành viên trong nhóm và chuyên gia khi cần thiết. GIAI ĐOẠN 1 Chấp nhận khách hàng và lập kế hoạch ban đầu Hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng Đánh giá những rủi ro kinh doanh của khách hàng Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ Xác lập mức trọng yếu, đánh giá rủi ro kiểm toán và rủi ro tiềm tàng Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát Thu thập thông tin để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu Triển khai chiến lược kiểm toán tổng thể và xây dựng chương trình kiểm toán GIAI ĐOẠN 2 Sơ đồ 1.
Quy trình kiểm toán - Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán Giáo trình Kiểm toán báo cáo tài chính - 4 Mặc dù ký hợp đồng và duy trì được hợp đồng với khách hàng không phải là dễ dàng đối với dịch vụ kiểm toán. Các công ty kiểm toán và kiểm toán viên có quyền từ chối các khách hàng trong trường hợp xét đoán có rủi ro kiểm toán là cao. Đối với khách hàng mới: Trước khi chấp nhận một khách hàng mới, hầu hết các công ty kiểm toán tìm hiểu các công ty để xác định có chấp nhận kiểm toán hay không. Các công ty kiểm toán tìm hiểu lý do vì sao công ty mời kiểm toán, hoặc tiếp xúc với kiểm toán viên tiền nhiệm mục đích để các kiểm toán viên đánh giá xem có nên chấp nhận kiểm toán hay không.
Thông qua kiểm toán viên tiền nhiệm họ biết được các thông tin về doanh nghiệp chẳng hạn như bất đồng giữa doanh nghiệp và người tiền nhiệm về các chính sách kế toán, các thủ tục kiểm toán hoặc giá phí; tìm hiểu được lý do vì sao doanh nghiệp thay đổi công ty kiểm toán. Đối với khách hàng cũ: Nhiều công ty kiểm toán sẽ đánh giá lại các khách hàng đã kiểm toán của những năm trước để biết xem có nên tiếp tục kiểm toán hay không. Kiểm toán viên có thể không tiếp tục kiểm toán nếu khách hàng trước đây có các xung đột trong cuộc kiểm toán, chưa thanh toán phí kiểm toán hoặc các thông tin khác; kiểm toán viên cũng có thể không tiếp tục kiểm toán cho khách hàng nếu nhận thấy khách hàng không liêm chính. Lựa chọn nhóm kiểm toán: Kiểm toán viên chỉ được kiểm toán khi đã có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành, do đó các kiểm toán viên khi tham gia phải có đầy đủ kiến thức và kỹ năng.
Các trợ lý kiểm toán trong nhóm kiểm toán phải có hiểu biết về ngành nghề, lĩnh vực kiểm toán, trong một số trường hợp nhóm kiểm toán cần có tham khảo ý kiến chuyên gia. Hiểu biết về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng Tìm hiểu sâu về khách hàng, ngành nghề kinh doanh, và tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng là cần thiết để kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán đầy đủ và chất lượng. Quy mô và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng đến rủi ro trong kinh doanh của họ và rủi ro có sai sót trọng yếu tiềm ẩn trong thông tin của báo cáo tài chính. Thông thường rủi ro trong kinh doanh của khách hàng là những vấn đề làm khách hàng không đạt được mục tiêu của Giáo trình Kiểm toán báo cáo tài chính - 5 họ.
Đây là những rủi ro tiềm ẩn mà kiểm toán viên quan tâm bước đầu tiên trong công việc xây dựng kế hoạch kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 – Đoạn 11, yêu cầu kiểm toán viên phải có “những hiểu biết cần có về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ”, cụ thể kiểm toán viên phải: - Tìm hiểu ngành nghề kinh doanh, các quy định pháp lý và các yếu tố bên ngoài khác, bao gồm cả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. - Tìm hiểu đặc điểm của đơn vị được kiểm toán: (i) Lĩnh vực hoạt động, (ii) Loại hình sở hữu và bộ máy quản trị; (iii) Các hình thức đầu tư mà đơn vị đang và sẽ tham gia; (iv) Cơ cấu tổ chức, sản xuất kinh doanh và quản lý và cơ cấu nguồn vốn của đơn vị. Các thông tin này giúp kiểm toán viên hiểu được các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần được trình bày trên báo cáo tài chính của đơn vị.
- Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng và lý do thay đổi nếu có. Kiểm toán viên phải đánh giá các chính sách kế toán mà đơn vị đang áp dụng có phù hợp với lĩnh vực hoạt động kinh doanh của đơn vị, có nhất quán với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính và các chính sách kế toán mà các đơn vị trong cùng lĩnh vực hoạt động đang áp dụng hay không. - Mục tiêu, chiến lược của đơn vị và những rủi ro kinh doanh có liên quan mà có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng. - Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị.
Đánh giá rủi ro trong kinh doanh của đơn vị được kiểm toán Kiểm toán viên thông qua những thông tin thu thập được từ hiểu biết về nền kinh tế và ngành nghề kinh doanh của đơn vị được kiểm toán để đánh giá rủi ro trong kinh doanh của đơn vị được kiểm toán. Rủi ro trong kinh doanh của đơn vị là những rủi ro dẫn đến đơn vị không đạt được mục tiêu kinh doanh. Rủi ro trong kinh doanh của đơn vị có thể phát sinh từ bất cứ yếu tố nào ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của đơn vị. Ví dụ như: nền kinh tế suy thoái, dịch bệnh, lãi suất ngân hàng thay đổi, các chính sách của chính phủ, … làm phát sinh rủi ro trong kinh doanh.
Mối quan tâm đầu Giáo trình Kiểm toán báo cáo tài chính - 6 tiên của kiểm toán viên chính là nguy cơ có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính do rủi ro trong kinh doanh của đơn vị. Quy trình đánh giá rủi ro kinh doanh của đơn vị, kiểm toán viên phải tìm hiểu liệu đơn vị đã có một quy trình cụ thể để: - Xác định rủi ro kinh doanh liên quan tới mục tiêu lập và trình bày báo cáo tài chính; - Ước tính mức độ của rủi ro; - Đánh giá khả năng xảy ra rủi ro; - Quyết định các hành động thích hợp đối với các rủi ro đó. Nếu đơn vị đã có một quy trình đánh giá rủi ro, kiểm toán viên phải tìm hiểu nội dung và kết quả của quy trình này. Trường hợp kiểm toán viên phát hiện có rủi ro có sai sót trọng yếu mà Ban Giám đốc của đơn vị không phát hiện được, kiểm toán viên phải đánh giá liệu rủi ro này có liên quan đến một rủi ro mà quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị được cho là có khả năng phát hiện nhưng thực tế lại không phát hiện được hay không.