BÀI 1: ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG AN NINH I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam Nghiên cứu những quan điểm cơ bản có tính lý luận của Đảng về đường lối quốc phòng bao gồm: Học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng tòan dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc –an ninh và một số nội dung cơ bản về nghệ thuật quân sự Việt Nam qua các thời kỳ, xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia trong tình hình mới, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và động viên quốc phòng, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin và tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối chiến lược xây dựng nề quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đọan hiện nay không chỉ bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ mà còn phải bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nền văn hóa của dân tộc, các quan điểm của Đảng. Nghiên cứu về công tác quốc phòng, an ninh. Bao gồm nghiên cứu những vấn đề cơ bản về nhiệm vụ, nội dung công tác về: Phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam, một số nội dung cơ bản về dân tộc, tôn giáo, đấu tranh phòng chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam, Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng, chống một số loại tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác, an toàn thông tin và phòng, chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng, An ninh phi truyền thống và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam. Nghiên cứu về công tác quốc phòng, an ninh thực chất là nghiên cứu hệ thống quy phạm pháp luật của Nhà nước vê bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị.
Mọi công dân đều có trách nhiệm tham gia công tác quốc phòng an ninh, luyện tập quân sự, giữ gìn bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội. Ngiên cứu và thực hiện tốt công tác quốc phòng, an ninh để xây dựng lòng tin chiến thắng trước mọi ăm mưu thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu về quân sự chung Bao gồm các nội dung; chế độ học tập công tác trong ngày trong tuần, các chế độ nề nếp chính quy bố trí trật tự nội vụ trong doanh trại, hiểu biết chung về quân binh chủng trong quân đội, điều lệnh đội ngũ từng người có súng, điều lệnh đội ngũ đơn vị, hiểu biết 1 chung về bản đồ địa hình quân sự, phòng tránh địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí công nghệ cao, ba môn quân sự phối hợp. Nghiên cứu kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật Nghiên cứu các kiến thức kỹ năng chiến thuật, kỹ thuật quân sự cần thiết như: Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK, tính năng cấu tạo và cách sử sụng một số loại lựu đạn thường dùng, ném lựu đạn bài 1, từng người trong chiến đấu tiến công, từng người trong chiến đấu phòng ngự, từng người làm nhiệm vụ canh gác cảnh giới.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở phương pháp luận Cơ sở phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu bộ môn này là học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Quá trình nghiên cứu, phát triển giáo dục quốc phòng, an ninh phải nắm vững và vận dụng đúng đắn các quan điểm khoa học sau đây: - Quan điểm hệ thống: Đặt ra yêu cầu nghiên cứu, phát triển các nội dung cùa giáo dục quốc phòng, an ninh một cách toàn diện, tổng thể trong mối quan hệ phát triển giữa các bộ phận, các vấn đề của môn học. - Quan điểm lịch sử, logic: Trong nghiên cứu, phải nhìn thấy sự phát triển của đối tượng, vấn đề nghiên cứu theo thời gian, không gian với những điều kiện lịch sử, cụ thể để từ đó giúp ta phát hiện, khái quát, nhận thức đúng những quy luật, nguyên tắc của hoạt động quốc phòng, an ninh.
- Quan điểm thực tiễn: Phải bám sát thực tiễn xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Các phương pháp nghiên cứu Là một bộ môn khoa học nằm trong hệ thống khoa học quân sự, phạm vi nghiên cứu rất rộng, nội dung nghiên cứu đa dạng, được cấu trúc theo hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, và luôn có sự kế thừa, phát triển. Vì vậy khi tiếp cận nghiên cứu phải được vận dụng với nhiều phương pháp, cách thức, phù hợp với tính chất của từng nội dung và vấn đề nghiên cứu cụ thể. - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết như phân tích, tổng hợp, phân lọai, hệ thống hóa, mô hình hóa, giả thuyết…nhằm thu thập thông tin trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu về quốc phòng, an ninh để rút ra kết luận cần thiết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn như quan sát điều tra, khảo sát thực tế, nghiên cứu các sản phẩm quốc phòng, an ninh, tổng kết kinh nghiệm, thí nghiệm, thực nghiệm… nhằm tác động trực tiếp vào đối tượng trong thực tiễn từ đó khái quát bản chất, quy luật họat động của quốc phòng, an ninh không ngừng bổ sung cũng như kiểm định tính đúng đắn của nội dung giáo dục quốc phòng, an ninh. - Trong nghiên cứu lĩnh hội các kiến thức kỹ năng quốc phòng, an ninh cần sử dụng các phương pháp dạy học lý thuyết và thực hành nhằm đảm bảo nắm được về đường lối, nghệ thuật quân sự , nắm lý thuyết kỹ thuật và chiến thuật rèn luyện các kỹ năng thao tác , hành động quân sự. Cần chú ý sử dụng phương pháp tạo tình huống, nêu vấn đề, tranh luận sáng tạo tăng cường thực hành rèn luyện sát thực tế chiến đấu. Tổ chức tham quan, viết thu 2 họach, tiểu luận, sử dụng các phương tiện khoa kỹ thuật hiện đại phục vụ trong giảng dạy nâng cao chất lượng học tập.
GIỚI THIỆU VỀ MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH 3. Đặc điểm môn học - Là môn học được luật định, thể hiện rõ đường lối giáo dục của Đảng được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Có sự kế tục và phát huy kết quả thực hiện chương trình huấn luyện quân sự phổ thông (1961), giáo dục quốc phòng(1991), quy chế giáo dục đào tạo trình độ đại học (2000) và nghị định của chính phủ về giáo dục quốc phòng năm 2007. - Là môn học bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật quân sự có tỉ lệ lý thuyết chiếm trên 70% chương trình môn học.
- Giáo dục quốc phòng góp phần xây dựng, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong khoa học ngay khi sinh viên đang học tập tại trường và khi ra công tác, góp phần đào tạo cho đất nước đội ngũ cán bộ có ý thức, năng lực sẵn sàng tham gia nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên mọi cương vị công tác. Chương trình Theo theo Thông tư số 05/2020/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình giáo dục quốc phòng – an ninh gồm 4 học phần, thời lượng 165 tiết, cụ thể: - Học phần I: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam - Học phần II: Công tác quốc phòng và an ninh - Học phần III: Quân sự chung - Học phần IV: Kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật 3. Tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập - Sinh viên có đủ số lần kiểm tra cho mỗi học phần; mỗi lần kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên và có đủ 80% thời gian có mặt trên lớp sẽ được dự thi kết thúc học phần. - Phương pháp đánh giá: + Tính điểm riêng cho từng học phần + Điểm môn học là điểm trung bình cộng của các học phần + Xếp loại kết quả môn học theo quy định của Bộ Giáo dục – Đào tạo - Sinh viên đạt điểm môn học từ 5 điểm và không bị xử lý kỉ luật từ cảnh cáo trở lên được cấp Chứng chỉ Giáo dục quốc phòng, an ninh.
Chứng chỉ giáo dục quốc phòng, an ninh là một trong những điều kiện để xét tốt nghiệp. Đối tượng được miển, giảm, tạm hoãn môn học giáo dục quốc phòng, an ninh Theo quy định về tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn học Giáo dục quốc phòng - an ninh ban hành kèm theo Thông tư số: 18/2015/TTL-BGDĐTTBXH ngày 08 tháng 9 năm 2015của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ lao động-thương binh và xã hội quy định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục quốc phòng và an ninh trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học: 3. Đối tượng được miễn học môn GDQP-AN: a) Sinh viên có giấy chứng nhận sĩ quan dự bị hoặc bằng tốt nghiệp học viện, trường sĩ quan quân đội, công an; b) Học sinh, sinh viên đã có chứng chỉ GDQP&AN tương ứng với trình độ đào tạo; 3 c) Học sinh, sinh viên là người nước ngoài 3. Đối tượng được miễn học, miễn thi học phần, nội dung trong chương trình GDQP&AN, gồm: học sinh, sinh viên có giấy xác nhận kết quả học tập các học phần, nội dung đó đạt từ 5 điểm trở lên theo thang điểm 10.