Giáo trình động vật hại nông nghiệp chuột ỗc nhện nghề bảo vệ thực vật cao đẳng phần 1 trường cao đẳng cộng đồng đồng tháp

Giáo trình động vật hại nông nghiệp chuột ỗc nhện cung cấp kiến thức cần thiết cho nghề bảo vệ thực vật tại trường cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp.

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2017

66
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG 1: CHUỘT HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1.1. Vai trò và lịch sử nghiên cứu

1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo và phân loại chuột hại

1.3. Giới thiệu một số loại chuột gây hại chính

1.4. Đặc điểm sinh học

1.5. Đặc điểm sinh thái học

1.6. Các biện pháp phòng trừ chuột

1.7. Xác định đặc điểm hình thái cấu tạo ngoài và sinh lý giải phẩu của chuột

1.8. Làm bẫy chuột

2. CHƯƠNG 2: ỐC, SÊN TRẦN HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

2.1. Vai trò và vị trí phân loại

2.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo

2.3. Đặc điểm sinh thái học và sinh vật học

2.4. Các loài sên, sên trần và sự gây hại của chúng

2.5. Sự phân bố gây hại của ốc bươu vàng ở Việt Nam

2.6. Các biện pháp phòng trừ ốc, sên trần

2.7. Trồng và chăm sóc một số cây ký chủ của ốc, nhện

2.8. Xác định đặc điểm hình thái cấu tạo ngoài, đặc điểm sinh học của ốc, sên trần

2.9. Thực hiện một số biện pháp bẫy ốc

3. CHƯƠNG 3: NHỆN NHỎ HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

3.1. Vai trò và vị trí phân loại

3.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo

3.3. Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học

3.4. Các biện pháp phòng trừ nhện

3.5. Một số loài nhện nhỏ hại cây trồng quan trọng

3.6. Xác định đặc điểm hình thái của nhện nhỏ hại cây trồng

3.7. Thảo luận nhóm và báo cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình động vật hại nông nghiệp cho bảo vệ thực vật

Giáo trình "Động vật hại nông nghiệp" là tài liệu quan trọng trong ngành bảo vệ thực vật, cung cấp kiến thức về các loại động vật gây hại như chuột, ốc, nhện. Nội dung giáo trình được biên soạn dựa trên các nghiên cứu mới nhất và thực tiễn, nhằm giúp sinh viên hiểu rõ về đặc điểm sinh học, sinh thái và các biện pháp phòng trừ hiệu quả.

1.1. Mục tiêu và nội dung chính của giáo trình

Giáo trình này nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức về đặc điểm hình thái, sinh học của các loài động vật hại, từ đó áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Nội dung bao gồm lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên có cái nhìn tổng quan và sâu sắc về vấn đề này.

1.2. Tầm quan trọng của động vật hại trong nông nghiệp

Động vật hại như chuột, ốc, nhện có tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp. Chúng không chỉ gây thiệt hại về năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Việc hiểu rõ về chúng là cần thiết để bảo vệ mùa màng và đảm bảo an toàn thực phẩm.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý động vật hại nông nghiệp

Quản lý động vật hại nông nghiệp gặp nhiều thách thức do sự phát triển nhanh chóng của các loài này và khả năng thích nghi cao. Các biện pháp phòng trừ hiện tại chưa đủ hiệu quả, dẫn đến thiệt hại lớn cho nông dân.

2.1. Tác động của động vật hại đến sản xuất nông nghiệp

Động vật hại gây ra thiệt hại lớn cho cây trồng, đặc biệt là trong giai đoạn sinh trưởng. Theo FAO, thiệt hại hàng năm do chuột có thể nuôi sống hàng triệu người. Việc này đòi hỏi các biện pháp quản lý hiệu quả hơn.

2.2. Những khó khăn trong việc áp dụng biện pháp phòng trừ

Nhiều biện pháp phòng trừ hiện tại chưa được áp dụng rộng rãi do thiếu thông tin, nguồn lực và sự hợp tác từ cộng đồng. Điều này làm giảm hiệu quả trong việc kiểm soát động vật hại.

III. Phương pháp phòng trừ động vật hại hiệu quả trong nông nghiệp

Để quản lý động vật hại, cần áp dụng các phương pháp phòng trừ đa dạng và hiệu quả. Các biện pháp này bao gồm cơ học, hóa học và sinh học, nhằm giảm thiểu thiệt hại cho cây trồng.

3.1. Biện pháp cơ học trong phòng trừ động vật hại

Biện pháp cơ học như bẫy chuột, bẫy ốc là những phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả. Chúng giúp giảm số lượng động vật hại mà không gây hại cho môi trường.

3.2. Biện pháp hóa học và sinh học

Sử dụng thuốc trừ sâu và các chế phẩm sinh học là những phương pháp phổ biến trong quản lý động vật hại. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến tác động của chúng đến môi trường và sức khỏe con người.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong quản lý động vật hại

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả có thể giảm thiểu đáng kể thiệt hại do động vật hại gây ra. Các mô hình quản lý tích hợp đang được triển khai tại nhiều địa phương.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực địa

Các nghiên cứu thực địa cho thấy việc áp dụng biện pháp phòng trừ đồng bộ giúp giảm thiểu thiệt hại do động vật hại. Những mô hình này cần được nhân rộng để đạt hiệu quả cao hơn.

4.2. Các mô hình quản lý tích hợp

Mô hình quản lý tích hợp kết hợp nhiều biện pháp khác nhau, từ cơ học đến sinh học, giúp tối ưu hóa hiệu quả phòng trừ động vật hại. Điều này không chỉ bảo vệ mùa màng mà còn bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và tương lai của giáo trình động vật hại nông nghiệp

Giáo trình động vật hại nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực cho ngành bảo vệ thực vật. Tương lai của giáo trình cần tiếp tục cập nhật các nghiên cứu mới và thực tiễn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong quản lý động vật hại.

5.1. Tầm quan trọng của việc cập nhật kiến thức

Việc cập nhật kiến thức mới về động vật hại và các biện pháp phòng trừ là cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong quản lý. Các nghiên cứu mới sẽ giúp cải thiện giáo trình và nâng cao chất lượng đào tạo.

5.2. Hướng phát triển trong tương lai

Tương lai của giáo trình cần hướng đến việc áp dụng công nghệ mới trong quản lý động vật hại, từ đó nâng cao hiệu quả và bền vững trong sản xuất nông nghiệp.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CHUỘT HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MĐ 15-01 Giới thiệu: Chươnghọc cung cấp kiến thức toàn vẹn nhất về đặc điểm hình thái cấu tạo ngoài, đặc điểm cơ quan sinh sản bên trong, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loại chuột. Hướng dẫn các biện pháp phòng trừ chuột hiệu quả và an toàn. Mục tiêu: - Kiến thức: + Trình bày được đặc điểm hình thái bên ngoài của các loài chuột + Trình bày được đặc điểm sinh lý của chuột - Kỹ năng: + Nhận dạng đúng các loài chuột. + Giải phẩu và xác định đúng vị trí cơ quan sinh sản bên trong, dự đoán tuổi và mật số chuột ngoài đồng.

+ Xác định được biện pháp phòng trừ chuột thích hợp - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Có ý thức trách nhiệm trong học tập, có khả năng làm việc theo nhóm + Có tinh thần làm việc nghiêm túc 1. Vai trò và lịch sử nghiên cứu 1. Vai trò của chuột Chuột là nhóm động vật nhỏ chiếm 42% các loài hữu nhũ, có ý nghĩa rất quan trọng đến đời sống con người. Với sự thích nghi kỳ diệu, chuột là nhóm động vật phổ biến tại nhiều sinh cảnh (MacDonald, 2001).

Theo tài liệu của tổ chức Nông lương thế giới (FAO), bình quân số lượng lương thực do chuột hại mỗi năm có thể nuôi sống hàng trăm triệu người trên trái đất. Trong nông nghiệp chuột phá hoại nghiêm trọng các loại cây hoa màu và cây lương thực ngay khi còn trồng ngoài ruộng từ lúc mới gieo cho đến lúc thu hoạch, trong kho vựa hoặc ngay trong quá trình vận chuyển. Trong hệ sinh thái nông nghiệp lúa nước, chúng gây hại ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa. Trong chăn nuôi, chúng ăn và gây hại thức ăn dự trữ cho gia súc và gia cầm, 1 làm nhiễm bẩn và làm giảm chất lượng thức ăn, thực phẩm.

Chuột còn tấn công, bắt các loại gia cầm để ăn thịt như bắt gà con, vịt con, trứng… Bên cạnh đó, chuột còn là đối tượng truyền nhiều bệnh nguy hiểm cho vật nuôi và con người bởi vì chúng là loài sống gần người và động vật nuôi nhiều nhất. Cho đến nay đã phát hiện nhiều bệnh của người và gia súc bắt nguồn từ động vật hoang dã mà trước hết là động vật gặm nhấm. Trong đó 30% bệnh của người là từ chuột lan truyền sang, có những bệnh gây thành dịch lớn, số lượng tử vong cao như bệnh dịch hạch. Những bệnh do chuột và ngoại ký sinh trên chuột truyền cho người gồm cả ba nhóm mầm bệnh: virus, vi khuẩn, nội ngoại ký sinh trùng và lan truyền chủ yếu theo bốn cách sau đây: - Bệnh lây truyền trực tiếp từ chuột sang người qua vết cắn: bệnh sốt chuột cắn (Sodocu havehill), bệnh dại… - Bệnh lây truyền qua côn trùng trung gian như bệnh dịch hạch, sốt mò, sốt phát ban chuột… - Bệnh lây qua vết thương cơ giới, khi người bị thương tiếp xúc với phân hoặc nước tiểu chuột có mầm bệnh: sốt Lepto… - Bệnh lây truyền gián tiếp qua thức ăn, nước bị nhiễm bẩn do chuột: bệnh giun xoắn, thương hàn, tả… Ngoài ra, chuột còn phá hoại nhiều công trình có giá trị lớn như đê điều, nhà gỗ, các tác phẩm văn hóa nghệ thuật vô giá, kho tàng và các đồ dùng thông thường hàng ngày của con người.

Tại các tỉnh phía nam, những năm trước đây chuột thường xuyên gây hại lẻ tẻ trên nhiều loại cây trồng. Nhưng chỉ từ thập niên 90 chuột mới thực sự trở thành loài dịch hại nguy hiểm, một hiểm họa cho sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Trong những năm gần đây chuột tái phát sinh và gây hại gia tăng trên nhiều loại cây trồng. Riêng trên lúa nước thiệt hại hàng năm khoảng 65-75 nghìn hecta, thậm chí có diện tích mất trắng.

Lịch sử nghiên cứu Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2005), trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chuột, chủ yếu liên quan tới dịch tễ học các bệnh lan truyền từ chuột sang người. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mới đây, tổ chức Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế của Australia (ACIAR) đăng tải 2 tuyển tập công trình về Sinh thái quản lý chuột (1999) và Sinh học và Quản lý chuột (2003) đã tập hợp nhiều kết quả nghiên cứu mới nhất của các nước và khu vực Đông Nam châu Á về tác hại, đặc điểm sinh học, sinh thái học, quy luật phát sinh gây hại, các biện pháp quản lý, nhất là quản lý dựa theo các nguyên tắc sinh thái 2 và dựa vào cộng đồng. Tại Việt Nam trong thời Pháp thuộc, từ thế kỷ XIX đã có các cuộc điều tra khảo sát về động vật nói chung và gặm nhấm nói riêng. Mẫu gặm nhấm đầu tiên được sưu tầm và mô tả là loài sóc chân vàng Callosciurus flavimanus Geof.

Morice (1875) đã thống kê được 3 loài chuột, 7 loài sóc và một loài nhím ở Nam Bộ. De Pousargeus (1904) đã phân tích tư liệu của Đoàn nghiên cứu về lịch sử và động vật ở bán đảo Đông Dương từ 1879 - 1895 ghi nhận 28 loài gặm nhấm. Nghiên cứu về chuột ở Việt Nam có thể chia làm 2 giai đoạn chính như sau: Giai đoạn năm 1950-1986 chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cơ bản đặc điểm sinh học, sinh thái của chuột hại như hang tổ, thức ăn, biến động số lượng của chuột hại, hoạt động sinh sản, phân bố của một số loài chuột hại thường gặp ở Việt Nam (Đào Văn Tiến, 1964, 1985; Đào Văn Tiến, Grohopskaia,1963; Đào Văn Tiến và Hoàng Trọng Cư, 1966; Đào Văn Tiến và ctv., 1966 a, 1966 b; Lê Vũ Khôi 1970, 1985, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Văn Biền 1980; Nguyễn Minh Tâm và ctv. Cuốn "Chuột và biện pháp phòng trừ" của Lê Vũ Khôi, Vũ Quốc Trung và Nguyễn Văn Bền (1979) đã tổng hợp khá đầy đủ kết quả nghiên cứu và các biện pháp phòng trừ chuột hại trong giai đoạn này.

Giai đoạn 2 là từ năm 1986 đến nay, chuột gây hại ngày một tăng và đã thực sự trở thành một nguy hại lớn cho sản xuất nông nghiệp. Kể từ khi có chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ (1998), Uỷ ban nhân dân các tỉnh, các tổ chức quần chúng đều tham gia thực hiện phong trào toàn dân diệt chuột. Các nghiên cứu về chuột trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào ứng dụng các biện pháp phòng chống chuột trên đồng ruộng và trong kho bảo quản thông qua bẫy bả, bẫy cây trồng, sử dụng vi sinh vật phòng trừ chuột (Lê Vũ Khôi, Nguyễn Văn Biền, 1980; Cao Văn Sung, 1995; Nguyễn Minh Tâm, Cao Văn Sung, Phạm Tiến Đức, 1986; Lê Văn Thuyết và ctv.,1999; Nguyễn Phú Tuân, 1996a, 1996b; Nguyễn Phú Tuân. 2002; Nguyễn Quí Hùng và ctv.,1998; Nguyễn Quí Hùng và ctv., 1999; Cao Văn Sung và ctv., 1997; Cao Văn Sung và ctv., 1999; Nguyễn Phú Tuân và ctv., 1999, Aplin và ctv.

Đặc điểm hình thái, cấu tạo và phân loại chuột hại 2. Đặc điểm cấu tạo ngoài Cơ thể chuột chia làm ba phần rõ rệt: đầu, thân và đuôi.1: Đặc điểm cấu tạo ngoài cơ thể chuột - Đầu Trên đầu có 2 mắt, 2 tai, cơ quan miệng, quanh cơ quan miệng có râu mép. Đầu cứng chắc do xương mặt và xương sọ hình thành. Mắt và tai khác nhau tuỳ loài và phụ thuộc vào mức độ thích nghi của chúng đối với môi trường.

Loài ăn đêm thường có mắt và tai to, râu mép phát triển.2: Cấu tạo đầu của chuột Răng cửa có 1 đôi hàm trên và 1 đôi hàm dưới. Điểm đặc trưng của chuột là răng cửa phát triển liên tục. Răng cửa có đặc điểm uốn cong hình lưỡi liềm và cắm sâu vào trong hàm.3: Cấu tạo hàm và răng cửa của chuột Do đó áp suất lên vành răng được san đều và không ảnh hưởng tới chân răng. Răng dùng để cắt thức ăn và chúng luôn phát triển, khoảng 10 mm/năm.

Vì vậy nếu răng cửa đối diện bị hỏng, nó sẽ phát triển và tạo thành vòng răng không có tác dụng dinh dưỡng và có thể làm cho con vật chết. Do đó để cho răng có hiệu quả, nhóm gặm nhấm phải “mài” răng liên tục, gặm bất cứ thứ gì chúng có thể gặm được. Răng gồm chủ yếu là chất đentin mềm, phía trước có bọc 1 lớp men rất cứng vì thế răng mòn không đều, bên trong mòn nhiều hơn bên ngoài làm cho răng có hình vát nhọn từ trong ra ngoài.4: Khoảng trống giữa răng cửa và răng hàm (Diastema) của chuột Trên hàm không có răng nanh, giữa răng cửa và răng hàm có khoảng trống lớn không có răng gọi là diastema và đây là khác biệt cơ bản giữa gặm nhấm và các thú ăn thịt khác như mèo và thú ăn sâu bọ. Không có răng nanh và có khoảng trống giữa răng cửa và răng hàm là đặc điểm khác biệt giữa Bộ gặm nhấm và các bộ khác.

Ngoài răng cửa, chuột có 3 đôi răng hàm. Răng hàm có mặt nghiền rộng và trên đó có các mấu nghiền thức ăn. Tùy theo loại thức ăn, cấu tạo răng hàm có thể khác nhau và tuỳ theo độ tuổi, độ mòn của răng hàm khác nhau. 5 - Thân Thân chuột có hình trụ, được tính từ ngay sau cổ đến hậu môn.

Có 4 chân, 2 chân trước và 2 chân sau. Do sự thích ứng nên chân trước và chân sau phát triển khác nhau. Loài chuột đồng có chân trước cùng bàn chân và móng chân phát triển cứng cáp hơn chân sau. Chuột nhảy sinh sống ở vùng hoang mạc, để thích nghi cho việc nhảy vọt, chúng có 2 chân sau dài gấp 2 - 4 lần chân trước, còn chân trước chỉ thích hợp cho việc đào hang và tìm thức ăn.

Loài chuột sống dưới nước hoặc cạnh nước thì chân có màng mỏng như chân vịt. Loài chuột sống trên cạn bay được có màng da dọc theo thân mình, nối chi trước với chi sau, có thể phóng mình liệng xa tới vài chục mét. - Đuôi Có dạng tròn hoặc dạng dẹp, nhìn chung thuôn dần về phía cuối. Phía cuối đuôi có thể có túm lông hoặc không.

* Ngoại hình con đực và con cái Sự phân biệt đực cái chủ yếu dựa vào số lỗ ở cuối bụng. Con đực có 2 lỗ (lỗ hậu môn và lỗ đái sinh dục), tinh hoàn của con trưởng thành võng xuống rõ rệt. Hai bên ngực bụng của chuột cái có 2 - 5 cặp đầu vú. - Khi còn nhỏ con đực và con cái có sự khác biệt về độ dài giữa hậu môn và lỗ đái sinh dục: ở con đực dài còn ở con cái thì ngắn hơn.

- Về độ tuổi Bên ngoài có thể căn cứ vào màu lông, sự thõng xuống của hòn dái (đối với con đực) và đầu vú (đối với con cái) để phân biệt độ tuổi một cách tương đối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ