CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỨU TRỢ XÃ HỘI Giới thiệu: Người học trình bày được việc cứu trợ xã hội là một tất yếu và khách quan; khái niệm, đối tượng, chức năng, phương pháp nghiên cứu, so sánh và phân tích nét đặc trưng của hoạt động cứu trợ xã hội. Mục tiêu: - Kiến thức: + Trình bày được cứu trợ xã hội là một tất yếu và khách quan; khái niệm, đối tượng, chức năng, phương pháp nghiên cứu của môn học Cứu trợ xã hội + Phân tích được đặc trưng của hoạt động cứu trợ xã hội. - Kỹ năng: 9 + Hình thành kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tài liệu; kĩ năng thuyết trình, thảo luận, hợp tác theo nhóm; kĩ năng phân tích, tổng hợp.
+ Vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề cụ thể trong học tập và thực tiễn. + Nhận biết được đặc thù, ý nghĩa của môn học, hình thành phương pháp học tập bộ môn một cách đúng đắn. - Năng lực tự chủ và trách nhiệm: + Tích cực, chủ động phát huy vai trò, trách nhiệm của bản thân trong công tác cứu trợ xã hội. + Nghiêm túc học tập, có ý thức vận dụng các chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các chính sách về cứu trợ xã hội.
Nội dung chính: 1. Tính tất yếu khách quan của cứu trợ xã hội Trong đời sống xã hội, hàng ngày chúng ta thường gặp người già cả neo đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, người lang thang cơ nhỡ…Những người này đã tạo nên một bức tranh xã hội với những hoàn cảnh sống bức xúc đòi hỏi xã hội phải giúp đỡ, hỗ trợ, nhằm làm cho xã hội ổn định và phát triển. Trước thực tại đó, cần xem xét những yếu tố tác động để từ đó có cách nhìn đúng. Tác động của tự nhiên - Hậu quả của thiên tai: bão, lũ lụt, hạn hán, động đất…làm cho con người lâm vào hoàn cảnh khó khăn cần được mọi người, Nhà nước cứu trợ, giúp đỡ.
- Các loại dịch bệnh hiểm nghèo lây lan nhanh, uy hiếp đến tính mạng con người đòi hỏi xã hội phải cứu giúp. Tác động của điều kiện kinh tế - Đời sống kinh tế, điều kiện vật chất là nền tảng của đời sống xã hội, trình độ sản xuất thấp gây khó khăn cho đời sống một bộ phận dân cư. 10 - Những quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường đã đẩy một bộ phận không nhỏ dân cư lâm vào cảnh khó khăn cần được xã hội giúp đỡ. Tác động của chính trị - xã hội - Mỗi thời kì lịch sử khác nhau thì đời sống vật chất và tinh thần cũng khác nhau.
Thời kì chiến tranh chống ngoại xâm, đất nước ta chịu nhiều hậu quả nặng nề cần được xã hội giúp đỡ. - Sự thay đổi cơ chế kinh tế, một bộ phận dân cư không thích ứng kịp đã lâm vào khó khăn. Qui luật phát triển không đều của con người - Do trình độ, năng lực, quan hệ xã hội của mỗi người khác nhau nên họ có sự phát triển khác nhau. - Trong xã hội còn có bộ phận dân cư có đời sống kinh tế khó khăn cần được cộng đồng xã hội quan tâm, giúp đỡ.
Tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường - Trong nền kinh tế thị thị trường, phân tầng xã hội xảy ra thường xuyên, mạnh mẽ và tác động mạnh đến đời sống con người, không ít người rơi vào mức sống và thu nhập thấp trong xã hội. - Sự chi phối nghiệt ngã của qui luật giá trị thặng dư đã làm cho một bộ phận dân cư lâm vào thất nghiệp, đói khổ cần được trợ giúp của Nhà nước và xã hội thông qua các chương trình, dự án việc làm, cho vay vốn và xoá đói giảm nghèo. - Mỗi quốc gia, mỗi chế độ xã hội dù ở trình độ phát triển nào, muốn tồn tại và phát triển bền vững đòi hỏi phải có cách thức giải quyết phù hợp. Cho nên có thể coi cứu trợ xã hội là một tất yếu khách quan của xã hội.
Truyền thống dân tộc và hoạt động cứu trợ xã hội 2. Truyền thống dân tộc - Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập và tự cường dân 11 tộc. Tình yêu dành cho quê hương, đất nước ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới hoàn toàn không giống nhau, song tựu chung lại sợi chỉ đỏ chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện khát vọng và hành động luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết. Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm, bắt nguồn từ những tình cảm rất đơn sơ, bình dị trong gia đình, làng xã và rộng hơn là tình yêu Tổ quốc.
Với vị trí địa lý là đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều quốc gia. Trong tiến trình phát triển của dân tộc, nhân dân ta đã phải trải qua thời gian dài chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Lịch sử thời kỳ nào cũng sáng ngời những tấm gương kiên trung, bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Từ Bà Triệu “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!”; Trần Bình Trọng “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”; Nguyễn Huệ “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng.
Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”… đến Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Nguyễn Viết Xuân với tinh thần “Nhằm thẳng quân thù! Bắn!”… Chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập và tự cường dân tộc đã trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam”, là nền tảng tinh thần to lớn, là giá trị đạo đức cao quý nhất trong thang bậc các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” và là nguồn sức mạnh vô địch để dân tộc ta vượt qua khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, xứng đáng với lời ngợi ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta.
Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. (1) - Lòng yêu thương, độ lượng, sống có nghĩa tình với con người. Đây là giá trị đạo đức nhân văn sâu sắc được sinh dưỡng trong chính đau thương, mất mát qua các 12 cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống lam lũ hàng ngày từ nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước của dân tộc Việt Nam. Điều dễ nhận thấy về biểu hiện lòng nhân ái của dân tộc ta được bắt nguồn từ một chữ “tình”.
Trong gia đình đó là tình cảm đối với đấng sinh thành “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, tình anh em “như thể tay chân”, tình nghĩa vợ chồng “đầu gối, tay ấp”; rộng hơn là tình làng xóm láng giềng và bao trùm hơn cả là tình yêu thương đồng loại “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”… Lòng yêu thương và sống có nghĩa tình còn được biểu hiện trong sự tương trợ, giúp đỡ nhau; sự khoan dung, vị tha dành cho cả những người đã từng lầm đường lạc lối biết lấy công chuộc tội. Không chỉ biểu hiện trong đời sống hàng ngày, tình yêu thương, sự khoan dung, độ lượng với con người của dân tộc Việt Nam còn được nâng lên thành những chuẩn tắc trong các bộ luật của Nhà nước; đồng thời là cơ sở của tinh thần yêu chuộng hoà bình và tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới.
- Tinh thần cần cù, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động sản xuất. Cần cù, siêng năng là một trong những giá trị đạo đức nổi bật, phẩm chất đáng quý của người Đông Á, trong đó có Việt Nam. Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù, siêng năng, sáng tạo trong lao động là điều phải làm vì có như vậy mới có của cải vật chất. Phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động của người Việt Nam luôn gắn với sự dành dụm, tiết kiệm và trở thành đức tính cần có như một lẽ tự nhiên.
Như vậy, đầu tiên, đức tính cần cù, sáng tạo và tiết kiệm trong lao động chính là yếu tố quan trọng giúp con người có thể đảm bảo được việc duy trì cuộc sống cá nhân. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, sự cần cù, sáng tạo đi đôi với thực hành tiết kiệm trong lao động sản xuất của mỗi người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa thiết thực, bởi đây chính là động lực tiên quyết nhằm tăng năng suất, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, qua đó tự mỗi người đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. - Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo. Từ ngàn đời nay, hiếu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử khoa bảng của dân tộc còn lưu danh những tấm gương sáng ngời về ý chí và tinh thần ham học: Nguyễn 13 Hiền mồ côi cha từ nhỏ, theo học nơi cửa chùa, đã trở thành Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử nước ta khi mới 13 tuổi. Mạc Đĩnh Chi vì nhà nghèo không thể đến lớp, chỉ đứng ngoài nghe thầy giảng, đêm đến phải học dưới ánh sáng của con đom đóm trong vỏ trứng, đã đỗ trạng nguyên và trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt). Đó còn là những tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài đáng kính: Nhà giáo Chu Văn An, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng lường Lương Thế Vinh, nhà bác học Lê Quý Đôn…; là tinh thần của nghị lực phi thường vươn lên trở thành nhà giáo ưu tú - Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký… Sự hiếu học, tinh thần ham học hỏi của dân tộc Việt Nam còn được biểu hiện ở thái độ coi trọng việc học và người có học, tôn trọng thầy cô, kính trọng họ như cha mẹ của mình “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Không thày đố mày làm nên”.