Chương 1 sẽ trình bày những kiến thức chung về công tác xã hội với nhóm nhằm cung cấp cho người học và người đọc hiểu biết về quá trình hình thành và phát triển, những khái niệm, đặc trưng, vị trí, mục tiêu, giá trị đạo đức, các mô hình tiếp cận hiện nay và các loại hình nhóm công tác xã hội. Mục tiêu: - Về kiến thức: Sinh viên trình bày được khái niệm công tác xã hội với nhóm; mô tả tóm tắt lịch sử phát triển phương pháp công tác xã hội với nhóm, đặc điểm của công tác xã hội với nhóm; Xác định được mục tiêu và các yếu tố quan trọng cần chú ý trong công tác xã hội với nhóm. Trình bày được các loại hình nhóm và phân tích được mục đích của từng loại hình nhóm; Phân biệt sự giống và khác giữa công tác xã hội nhóm và công tác xã hội cá nhân; Phân tích được những thuận lợi và bất lợi trong trị liệu thông qua nhóm, một số thuyết ảnh hưởng đến PP công tác xã hội nhóm. - Về kỹ năng: Có kỹ năng nhận diện, đánh giá tính hiệu quả của một số loại hình công tác xã hội với nhóm đang triển khai tại địa phương trong việc hỗ trợ những người yếu thế, nâng cao kiến thức về sức khoẻ sinh sản cho thanh thiếu niên, nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo ở nông thôn,.
- Về năng lực tự chủ trách nhiệm: Sinh viên tích cực tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của công tác xã hội nhóm, đặc điểm và các thuyết ảnh hưởng đến nhóm. Tích cực học tập có thái độ nghiêm túc, tự giác, ham học hỏi và hoàn thành tốt các nhiệm vụ của môn học. Nội dung chính: 1. Khái niệm nhóm: Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về nhóm dựa trên nền tảng các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau.
Theo quan điểm giải thích cổ điển, thì 11 “Một nhóm được định nghĩa như là hai hay nhiều người có tương tác với một người khác theo cách mỗi một người đều gây ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng bởi mỗi người khác.” Quan điểm xã hội học cho rằng “Nhóm là một hệ thống xã hội mà mối quan hệ ý nghĩa của nó được xác định qua những quan hệ thành viên trực tiếp và phân tán cũng như qua tính bền lâu tương đối” Dưới góc độ nhìn nhận của các nhà tâm lý học, nhóm được xem là chủ thể các hiện tượng tâm lý xã hội, ở đây các hiện tượng tâm lý xã hội hình thành, phát triển và diễn ra hết sức phức tạp. Như vậy có thể hiểu: Nhóm là khi hai hay nhiều người có mối quan hệ tương hỗ nhau về mặt tinh thần hoạt động như một tập thể, có những mối quan tâm chung, sử dụng việc tương tác mặt đối mặt để chia sẻ, nhất trí và làm việc để đáp ứng nhu cầu, các vấn đề thuộc về giá trị chung của họ hoặc của người khác. Nhóm nhỏ được xem là một tập hợp người nhất định có quan hệ qua lại trực tiếp với nhau thường xuyên, liên kết với nhau qua một hoạt động chung, tồn tại trong khoảng thời gian và không gian nhất định.Hình ảnh minh hoạ cho khái niệm nhóm 1. Nhóm xã hội: Theo các nhà xã hội học: Nhóm xã hội là một tập hợp của những cá nhân được gắn kết với nhau bởi những mục đích nhất định.
Những cá nhân có những hoạt động chung với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau nhằm đạt được những mục đích cho mọi thành viên. Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, nhóm xã hội có ba dấu hiệu chung: 12 - Có một số lượng người nhất định. - Có một hoạt động chung, trong đó các thành viên có sự tương tác và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Cơ sở tâm lý xã hội của hành động nhóm là cùng chung hứng thú, nhu cầu, chung mục đích thống nhất hành động và nhóm có thể trở thành chủ thể hoạt động khi ba yếu tố trên có sự thống nhất.
Khái niệm công tác xã hội với nhóm: Theo tác giả Toseland và Rivas (1998) có nhiều cách tiếp cận với công tác xã hội nhóm và mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và ứng dụng thực hành cụ thể. Vì vậy, các tác giả này đã đưa ra các định nghĩa bao quát được bản chất của công tác xã hội nhóm và tập hợp được những điểm riêng biệt của các cách tiếp cận công tác xã hội nhóm như sau: Công tác xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ. Hoạt động này trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và toàn thể nhóm một cách hệ thống cung cấp dịch vụ. Trong từ điển công tác xã hội của Barker (1995), công tác xã hội với nhóm được định nghĩa là: “một định hướng và phương pháp can thiệp công tác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung, họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể.
Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu của công tác xã hội với nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lý, tình cảm mà còn trao đổi thông tin, phát triển các kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng, giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả. Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình công tác xã hội với nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu” [1], [2] Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998) đưa ra khái niệm trị liệu nhóm mô tả rõ nét hơn thân chủ và yêu cầu của cán bộ chuyên môn trong trị liệu nhóm. Theo bà, “trị liệu nhóm nhằm trị liệu cá nhân các bệnh nhân tâm thần, những người bị rối loạn”. [1], [3] 13 “Theo tác giả Konopka (1963): “Công tác xã hội với nhóm là phương pháp công tác xã hội giúp cá nhân nâng cao chức năng xã hội thông qua việc trải nghiệm và đương đầu để giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề của cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng”.
[3] Toseland (1998) định nghĩa “Công tác xã hội với nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm trị liệu và các nhóm hành động nhằm giúp nhóm đáp ứng nhu cầu xúc cảm xã hội, và hoàn thành các nhiệm vụ. Hoạt động này được tổ chức cho từng thành viên của nhóm và cho toàn thể nhóm trong hệ thống phân phối dịch vụ”. Theo cách diễn đạt đơn giản thì công tác xã hội nhóm là quá trình nhân viên xã hội sử dụng tiến trình sinh hoạt với nhóm nhằm giúp các cá nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm, suy nghĩ với nhau, tạo sự thay đổi trong thái độ, hành vi, tăng cường khả năng giải quyết vấn đề, thoả mãn nhu cầu của các thành viên trong nhóm. Điểm cần nhấn mạnh trong công tác xã hội với nhóm là giúp đỡ cá nhân có vấn đề.
Công tác xã hội với nhóm chú trọng đến hành động và ảnh hưởng cũng như sự phản ứng và thích ứng. Có thể hiểu một cách tổng quát rằng công tác xã hội với nhóm là phương pháp về giúp đỡ các nhóm cũng như giúp đỡ cá nhân; tạo điều kiện cho cá nhân và nhóm thay đổi những vấn đề của cá nhân, nhóm, tổ chức và cộng đồng. - Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề. - Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm 14 giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu.
Trong phương pháp công tác xã hội cá nhân, đối tượng được tác động chính là cá nhân người được giúp đỡ. Công cụ chính là mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và thân chủ.[6] Trong phương pháp công tác xã hội nhóm, đối tượng tác động là toàn nhóm, là mối tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu không khí sinh hoạt nhóm. công tác xã hội là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động nhóm trong nội bộ nhóm để đem đến những thay đổi về nhận thức, niềm tin và hành vi. Các thành viên nhóm chia sẻ kinh nghiệm và sử dụng nguồn lực của cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn đề của họ.
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM: 2. Sự hình thành và phát triển công tác xã hội với nhóm của thế giới: Hình thành từ thập niên 1960 tại Anh bắt nguồn từ sinh hoạt riêng của các nhóm nhân viên xã hội để đánh giá và đánh giá hiệu quả của công tác xã hội cá nhân. Cùng thời ấy, công tác xã hội nhóm cũng đã xuất hiện tại Bắc Mỹ cũng những nghiên cứu về năng động nhóm. Từ ảnh hưởng của Mỹ, công tác xã hội nhóm dần được sử dụng nhiều hơn vào thập niên 1970 để cải tiến phương pháp can thiệp.
Công tác nhóm bắt nguồn ở Anh vào thế kỷ 19, vào thời điểm có nhiều biến động và thay đổi từ cuộc cách mạng kỹ nghệ. Sự hình thành hệ thống các nhà máy, xưởng đã thu hút hút người dân cà nam lẫn nữ từ các làng mạc và thành phố nhỏ đến các khu công nghiệp trung tâm như Bristol, Birmingham, Sheffield và Luân Đôn. Việc tập trung số lượng người đông đảo và đột ngột này đã tạo ra 15 những vấn đề nghiêm trọng như nhà ở, vệ sinh và tội phạm; các dịch vụ đang có lúc bấy giờ không đủ để giải quyết những vấn đề này. Với sự phát triển của các xí nghiệp số người lao động ngày càng lệ thuộc kinh tế vào giới chủ nhân, họ không còn làm chủ sản xuất mà chỉ bán sức lao động, họ tùy thuộc vào giới chủ để hưởng lương.
Nếu tiền lương thấp, nếu không có việc làm họ sẽ không biết dựa vào cái gì để sống. Vấn đề xã hội rộng lớn đã ảnh hưởng đến hàng triệu gia đình. Sự nghèo đói lan rộng đối nghịch với sự gia tăng giàu có của quốc gia tập trung vào một nhóm thiểu số. Một số phong trào đã thành lập để giải quyết các vấn đề nhà ở, giáo dục, tội phạm, lao động trẻ em.