chương 1). Mối quan hệ NVXH - TC được chia thành 3 giai đoạn: bắt đầu, giữa chừng, chấm dứt. Giai đoạn đầu là giai đoạn trắc nghiệm. Khi TC thử xem 'NVXH có giúp anh ta được không và NVXH xem mình có thể giúp gì.
Họ bắt đầu có sự tiếp xúc với nhau. ở giai đoạn giữa, giai đoạn trị liệu, hai người cùng nhau làm việc như một ê-kíp. ở giai đoạn kết thúc mục đích và mục tiêu trị liệu đã đạt được và trường hợp dừng ở đây. Gia đình của thân chủ Cách tiếp cận bao gồm cả gia đình rất cẳn thiết vì nhiều vấn đẻ bắt nguồn từ gia đình và gia đình cũng có thể giúp đỡ TC.
Bắt đầu với TC, sớm muộn gì tiến trình cũng nới rộng tới gia đình. Cuộc tìm hiểu đầy đủ về TC phải bao gồm thông tin về gia đình anh ta, chân dung gia đình, hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe và hành vi sức khỏe, sự chăm sóc và giáo dục trẻ em, các mối quan hệ trong gia đình, hành vi và sự thích nghỉ của từng thành viên, sự tham gia của gia đình vào các hoạt động chính thức và phi chính thức trong khu xin và cách gia đình sử dụng tài nguyên cộng đồng. Từ các dữ kiện trên NVXH thử đánh giá về năng lực của gia đình để liên hệ với người dân và các tổ chức xung quanh họ, các mặt mạnh mặt yếu của gia đình, và các yếu tố về nhân cách khả dĩ hỗ trợ hay giới hạn chức năng xã hội của gia đình. Trong quá trình làm việc, NVXH nên gặp từng cá nhân và gia đình cùng một lúc để xác định xem mâu thuẫn ở chỗ nào, và khám phá những mặt mạnh của gia đình để vận dụng mà giải quyết vấn đề.
Phỏng vốn cả cặp vợ chồn một lượt sẽ đưa tới một kế hoạch tốt đễ giải quyết vấn đề. Phỏng vấn nhóm cũng có thể được sử dụng như là một phương pháp chữa trị trong gia đình trị liệu; phương pháp này cũng được gọi là tham vấn gia đình. Phỏng vấn nhóm có. thể cải thiện các mỗi quan hệ gia đình, đời sống gia đình và hành vi cá nhân.
Nó cũng giúp thân thuœ học cách nói chuyện, cùng nhau lên kế hoạch và hành động thay vì hành động theo xu hướng cá nhân riêng lẻ. Khi tiếp cận với các vấn đề gia đình, phỏng vấn nhóm là phương tiện trị liệu gia đình tốt nhất. Kết luận Giúp đỡ cá nhân và gia đình không chỉ đơn thuần là hỗ trợ vật chất hay tài nguyên xã hội nhưng quan trọng hơn đó là giúp họ tự mình giải quyết vấn đề. Nhằm mục đích này NVXH phải thực hiện một loạt công việc đòi hỏi kiến thức khoa học về con người và môi trường xã hội trong đó họ sống và các phương pháp can thiệp của CTXH.
Kiến thức, thái độ, kỹ năng cần thiết đẻ thực hiện CTXHCN có hiệu quả cũng áp dụng cho CTXH nhóm cộng đồng. NVXH cũng sẽ áp dụng các bước đi của tiến trình giải quyết vấn đề cho cả 3 phương pháp khi làm với nhóm và cộng đồng NVXH cũng có thể vận dụng các kỹ năng CTXH cá nhân để làm việc với các thành viên. Cho dù là các loại thân chủ có khác nhau mục đích chung là giúp cải thiện chức năng hoạt động tâm lý xã hội của thân chủ. Chương 2: MỘT SÓ KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN.
Kỹ năng lắng nghe 1. Khái niệm Nghe là một quá trình thụ động chỉ việc chúng ta tiếp nhận mọi loại âm thanh. Còn lắng nghe là một quá trình chủ động, tập trung và mong muốn thấu. hiểu nội dung của người nói.
Phân tích những gì họ nói rồi đưa ra lời đối đáp ý nghĩa hoặc chia sẻ, cho lời khuyên với người đối diện. Mặc dù nghe là một phản xạ của con người, nhưng lắng nghe là một kỹ năng cần phải rèn luyện trong thời gian dài mới có thể thành thạo. Kỹ năng lắng nghe không chỉ áp dụng vào môi trường làm việc mà còn áp dụng vào đời sống gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Kỹ năng lắng nghe chủ động: có nghĩa là mời gọi, khuyến khích người khác tiếp tục nói. ~ Lắng nghe bao gồm 3 phần: + Là trong quá trình giao tiếp, NVXH tập trung hướng về thân chủ hơn là chú ý tới bản thân + Là khả năng nhận biết chính xác những nội dung mà thân chủ nói ra trong giao tiếp (cả giao tiếp bằng lời và không lời) cũng như là giải thích chính xác ý nghĩa mà thân chủ mong muốn thể hiện trong giao tiếp + Sự phản hồi của NVXH trong giao tiếp với những nội dung mà thân chủ trình bày thể hiện NVXH có lắng nghe phủ hợp hay không.
Lắng nghe là kỹ năng cơ bản của tất cả mọi người. Tuy nhiên, mọi người cũng rất hay mắc sai lầm khi thực hiện kỹ năng này, không chỉ trong hoạt động nghề nghiệp mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày. Lắng nghe rất khác với nghe bình thường. Cần phân biệt hai khái niệm này.
Nghe là khả năng thu những tiếng động và âm thanh trong lời nói mà một người thể hiện, nghe thiên về khả năng thính giác trong việc tiếp nhận âm thanh. Ngay cả việc ghỉ âm cũng. có thể thực hiên được việc nghe. Lắng nghe không chỉ là nghe được âm thanh mà còn là việc nhận ra những cảm xúc của âm thanh này và việc hiểu chính xác ý nghĩa của lời nói.
Như nghe là nhận biết được về mặt từ ngữ còn lắng. nghe giúp hiểu được ý nghĩa tỉnh tế trong lời nói. Nhiều người, trong đó có cả 'NVXH đôi khi chỉ nghe chứ không lắng nghe. * Những nội dung cần lắng nghe.24 (2002) cho rằng khi NVXH lắng nghe, họ lắng nghe về các nội dung: + Lịch sử của thân chủ: Những trải nghiệm, những gì họ thấy hoặc những gì xây ra với ho.
+ Hành vi của họ: cái gì họ làm và cái gì họ không thể làm được + Những tác động, cảm xúc và tình cảm xuất phát từ những gì họ đã trải nghiệm + Những thông tin chính — những hiểu biết cơ bản của họ về những gì xảy ra với họ + Ý kiến của họ về những vấn đề cơ bản trong cuộc sống bản thân, nguyên nhân vì sao họ lại có những ý kiến về chính bản thân họ hay về những người khác + Những quyết định họ đưa ra trong cuộc sống, nguyên nhân của những quyết định đó, việc vận dụng những quyết định họ đưa ra đối với chính bản thân họ và với những người khác + Ý định của họ - họ định hành động như thế nào, + Họ thấy mục đích cuộc sống của họ làgì? Nguyên nhân của những hành động đó và việc áp dụng cho họ và cho những người khác + Bồi cảnh của tinh trạng hiện tại ~ có những ai bị ảnh hưởng với những gì đang diễn ra 1. Những trở ngại khi lắng nghe - Lắng nghe là một kỹ năng khó, Thân chủ ít khi nói với NVXH chính xác và logic những gì mà Egan cho là cần thu thập. Mọi người thường nói theo kiểu vòng vo, thường gắn kết nhiều thông tin với nhau ~ Nhiều thân chủ không nói hoặc nói rất ít. Ví dụ: trẻ em không phải lúc nào cũng nói về những gì đã xảy ra với các em - Đối tượng nói thường rất khó hiểu vì các cách thể hiện, thiếu hiểu biết về ngữ pháp, do ảnh hưởng cảm xúc, không biết cách thể hiện hoặc không đủ từ ngữ để diễn đạt những gì họ muốn nói.
~ Sự giao tiếp được thiết lập khi mọi người lắng nghe, không qué ami ~ Một số người thường ghi lại những điều đối tượng nói vị lều này làm hạn chế sự trao đổi hoặc mong muốn nói tiếp của đối tượng. - Sự xao nhãng: gồm những xao nhãng do môi trường tạo ra như tiếng ồn, người khác đang nói chuyện. hoặc những xao nhãng nội tâm như những suy nghĩ riêng tư của người nghe là NVXH dù có dính dáng hay không dính ding đến vấn đề thân chủ đang nói. ~ Sự lo âu hay lo sợ của người nghe đối với người nói: Khi NVXH quá lo King làm sao tìm ra cách đáp ứng thích hợp với thân chủ thì trí óc của NVXH bị bận tâm không thể chú ý vào những những gì thân chủ đang nói tiếp theo.
Đây là một trở ngại thường xảy ra cho NVXH khí NVXH lo rắng làm cách nào để lấy được lòng tin của thân chủ mình.Ví dụ: Khi NVXH lo lắng về việc thấu cảm đối với thân chủ, vì thế thay vì tập trungvào điều thân chủ nói thì NVXH lại tập trung vào cách mình sẽ đối ứng, chúng ta có thể lập lại nhiều lần câu *Tôi hiểu những cảm xúc của anh/chị” hay “ Những cảm nghĩ như thế là tự nhiên” mà mình lại không lắng nghe cẩn thận điều thân chủ nói. ~ Nghe có chọn lọc: Nghe theo khuynh hướng chỉ muốn nghe những gì mình thích hay mình muốn, điều này cản trở sự lắng nghe tích cực. Việc bỏ ngoài tai điều được chia sẻ có khi xảy ra một cách có ý thức hay không ý thức.Ví dụ: Thân chủ chia sẻ vì sao mình rơi vào vấn đề và những kỷ niệm thời trẻ con, nhưng NVXH chỉ ghi nhận được hoàn cảnh của việc đưa đến van dé ma không chú tâm đến những kỷ niệm thơ ấu của thân chủ. * Các thành tố của lắng nghe: Có 2 thành tố của lắng nghe.
~ Nói — điều mà cả NVXH và thân chủ cùng làm - Lắng nghe - việc mà NVXH thường làm nhiều hơn. Lắng nghe là quá trình qua lại thực tế năng động giữa nói và nghe và qua đó phảnhồi qua lại lẫn nhau. Ví dụ: thân chủ và NVXH được định hình bởi những gì thân chủ đã nói và cách NVXH đã nghe.3 Quá trình lắng nghe: Bao gầm 3 bước - Bước l: Mời mọc - làm cho thân chủ hiểu rằng anh/chị đã chuẩn bị lắng nghe câu chuyện, suy nghĩ, cảm xúc của họ chứ không đơn thuần chỉ là nghe thông tin. Mời giao tiếp bằng cách: Qua động tác cơ thể, ngôn ngữ cơ thể (nét mặt cởi mở, tươi cười), câu nói (tôi muốn biết về những nỗi lo của anh/ chị về sự an toàn của con chị nếu chị đi làm).
Thường đưa ra các câu hỏi đơn giản hoặc tuyên bố sẽ mời chao thân chủ nói chuyện “Chuyện này đã xảy ra như thé nao vay?”. Thường NVXH không cần nói mà chỉ cần sử dụng giao tiếp không. bằng lời đã có thể thể hiện cho thân chủ biết rằng anh/ chị đang quan tâm đến câu chuyện, đến tinh huống và họ sẽ trả lời để đáp ứng tình huống giao tiếp không bằng lời.