Giáo trình công tác xã hội với người nghèo - Trường Đại học Lao động Xã hội - TS. Nguyễn Thị Thái Lan

Giáo trình công tác xã hội với người nghèo của Đại học Lao động Xã hội phân tích khái niệm nghèo đói và các giải pháp xóa đói giảm nghèo hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Lao động Xã hội

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Tác giả

Nguyễn Thị Thái Lan

Thể loại

Giáo trình

2010

59
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan công tác xã hội với người nghèo ĐH Lao động Xã hội

Giáo trình công tác xã hội với người nghèo của Trường Đại học Lao động - Xã hội do TS. Nguyễn Thị Thái Lan chủ biên, xuất bản năm 2010. Đây là tài liệu giảng dạy nòng cốt cho sinh viên ngành công tác xã hội trên toàn quốc. Nội dung giáo trình định hình khung lý thuyết bài bản về an sinh và trợ giúp xã hội. Cuốn sách tổng hợp các quan điểm hiện đại từ Liên hiệp quốc và Ngân hàng Thế giới. Tác phẩm phân tích toàn diện bối cảnh nghèo đói tại Việt Nam qua từng thời kỳ. Giáo trình làm rõ vai trò thiết yếu của nhân viên xã hội trong việc đồng hành cùng cộng đồng yếu thế. Trọng tâm của tài liệu hướng đến việc nâng cao năng lực tự chủ cho người nghèo. Học viên được tiếp cận các chuẩn mực nghề nghiệp quốc tế cùng kỹ năng can thiệp thực tế. Văn bản cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế các dự án phát triển kinh tế bền vững. Nguồn tài liệu này hỗ trợ đắc lực cho hoạt động hoạch định chính sách giảm nghèo quốc gia. Cấu trúc bài giảng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận hàn lâm và khảo sát thực tiễn tại cơ sở.

1.1. Bối cảnh ra đời giáo trình tại ĐH Lao động Xã hội

Trường Đại học Lao động - Xã hội là cái nôi đào tạo chuyên ngành công tác xã hội tại Việt Nam. Quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Tình trạng này đòi hỏi một đội ngũ cán bộ xã hội có trình độ chuyên môn cao. Giáo trình ra đời năm 2010 nhằm chuẩn hóa chương trình đào tạo đại học. Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan đúc kết kinh nghiệm từ nhiều đề tài nghiên cứu cấp bộ. Tài liệu đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên, giảng viên. Nội dung cập nhật các chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Cuốn sách tạo bước ngoặt trong việc chuẩn hóa hệ thống tri thức ngành.

1.2. Mục tiêu đào tạo và sứ mệnh trợ giúp người nghèo

Giáo trình hướng tới mục tiêu trang bị kiến thức liên ngành cho người học. Sinh viên nắm vững lý thuyết xã hội học, tâm lý học và nhân học ứng dụng. Tài liệu rèn luyện kỹ năng nhận diện căn nguyên của sự bần cùng hóa. Nhân viên xã hội tương lai học cách tôn trọng phẩm giá và quyền tự quyết của thân chủ. Khóa học xây dựng tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp và lòng trắc ẩn sâu sắc. Người học không chỉ cung cấp cứu trợ trực tiếp mà còn nâng cao năng lực cho người thụ hưởng. Sứ mệnh cốt lõi là xóa bỏ định kiến và rào cản xã hội đối với người nghèo. Giáo trình trang bị phương pháp giúp đối tượng tự vươn lên thoát khỏi bẫy nghèo đói.

II. Phân tích vấn đề nghèo đói theo giáo trình công tác xã hội

Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp và phi lý. Nền văn minh nhân loại phát triển nhưng đói nghèo vẫn tồn tại dai dẳng. Giáo trình phân tích nghèo đói dưới góc nhìn đa chiều của các tổ chức quốc tế. Nhà kinh tế học Galbraith chỉ ra sự thiếu hụt so với mức sống chung của cộng đồng. Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen năm 1995 xác định chuẩn nghèo qua mức thu nhập tối thiểu một đô la mỗi ngày. Ngân hàng Thế giới mở rộng định nghĩa ra ngoài phạm vi túng thiếu vật chất thuần túy. Nghèo đói gắn liền với sự thiếu hụt dinh dưỡng, y tế và cơ hội tiếp cận giáo dục. Tình trạng này khiến các nhóm yếu thế mất tiếng nói và suy giảm quyền lực trong xã hội. Tại Việt Nam, nghèo đói diễn ra nặng nề ở khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ sở hạ tầng kém phát triển làm gia tăng tính dễ bị tổn thương trước thiên tai. Khủng hoảng kinh tế hoặc bệnh tật dễ dàng đẩy các hộ gia đình rơi vào cảnh bần cùng. Cuốn sách nhấn mạnh nghèo đói vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của sự bất bình đẳng xã hội kéo dài.

2.1. Khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Giáo trình phân định ranh giới rõ ràng giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng thu nhập không bảo đảm mức sinh hoạt tối thiểu. Người nghèo tuyệt đối đối mặt với nguy cơ thiếu ăn, thiếu mặc và thiếu nơi ở an toàn. Tiêu chuẩn này thường áp dụng để đo lường mức độ khẩn cấp tại các nước đang phát triển. Ngược lại, nghèo tương đối phản ánh sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư. Cá nhân có mức hưởng thụ thấp hơn đáng kể so với mức sống trung bình của cộng đồng. Quan niệm nghèo tương đối gắn liền với tiêu chuẩn văn hóa và tập quán địa phương. Sự phân biệt này giúp nhà quản lý xác định đúng đối tượng để hỗ trợ.

2.2. Chiều kích nghèo đa chiều và nhóm dễ bị tổn thương

Nghèo đa chiều không đơn thuần là thiếu hụt tài chính. Giáo trình mở rộng phân tích sang các khía cạnh dịch vụ công cơ bản. Người nghèo thường chịu thiệt thòi về y tế, giáo dục, nước sạch và nhà ở. Khả năng tiếp cận thông tin và cơ hội học nghề bị hạn chế nghiêm trọng. Tác phẩm đặc biệt quan tâm đến các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Trẻ em, phụ nữ đơn thân, người cao tuổi neo đơn và người khuyết tật chịu tác động nặng nhất. Đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa thường thiếu đất sản xuất. Môi trường sống khắc nghiệt đẩy họ lún sâu vào vòng xoáy thiếu thốn triền miên. Việc nhận thức đầy đủ các chiều kích giúp hoạch định chính sách hiệu quả.

III. Phương pháp công tác xã hội hỗ trợ người nghèo thoát nghèo

Giáo trình cung cấp hệ thống giải pháp can thiệp chuyên nghiệp ở nhiều cấp độ. Nhân viên xã hội áp dụng công tác xã hội cá nhân, nhóm và phát triển cộng đồng. Điểm nhấn là việc lồng ghép các chính sách an sinh xã hội hiện hành của Nhà nước. Tài liệu phân tích cơ chế vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội. Chính sách hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 167 giúp người dân an cư lạc nghiệp. Địa phương huy động thêm quỹ Vì người nghèo và nhà Đại đoàn kết từ Mặt trận Tổ quốc. Việc cấp đất sản xuất và nước sinh hoạt tạo nền tảng tư liệu lao động bền vững. Giáo trình nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo bốn nhóm kỹ năng cốt lõi. Người nghèo cần được trang bị kỹ năng sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, tổ chức và quản lý tài chính. Nhân viên xã hội hỗ trợ lập kế hoạch chi phí đầu vào và thăm dò nhu cầu thị trường. Cách tiếp cận này thay đổi tư duy từ nhận viện trợ thụ động sang chủ động làm kinh tế.

3.1. Kết nối nguồn lực và hỗ trợ an sinh xã hội

Nhân viên xã hội đóng vai trò là cầu nối liên kết các nguồn lực trợ giúp. Giáo trình chỉ dẫn cụ thể quy trình phối hợp với chính quyền cơ sở. Cán bộ hướng dẫn người dân làm thủ tục vay vốn xóa đói giảm nghèo. Nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cần được sử dụng đúng mục đích sinh kế. Việc hỗ trợ nhà ở kiên cố bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh và diện tích sử dụng. Ban Giảm nghèo cấp xã trực tiếp hỗ trợ các đối tượng già cả, neo đơn xây dựng nhà. Các gói hỗ trợ đất ở và nước sạch hướng tới đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn. Mô hình này bảo đảm an sinh xã hội được phân bổ minh bạch và công bằng.

3.2. Đào tạo kỹ năng lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ

Giáo trình cung cấp công cụ hướng dẫn người nghèo tự lập kế hoạch sinh kế. Bốn kỹ năng cốt lõi gồm sản xuất, tiêu thụ, tổ chức và quản trị tài chính. Trong khâu sản xuất, người dân học cách xác định nguyên liệu, chi phí và thời gian. Bảng kế hoạch quản lý giúp theo dõi tiến độ công việc một cách khoa học. Về kỹ năng tiêu thụ hàng hóa, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật tiếp thị và bán hàng. Người học khảo sát nhu cầu thị trường để tối ưu hóa bao bì và giá bán. Việc tính toán toàn bộ chi phí đầu vào bảo đảm khả năng sinh lời thực tế. Năng lực thương mại hóa sản phẩm giúp các hộ gia đình duy trì thu nhập ổn định.

IV. Ứng dụng giáo trình công tác xã hội với người nghèo vào thực tiễn

Giáo trình công tác xã hội với người nghèo khẳng định giá trị thực tiễn to lớn trong đào tạo và công tác xã hội hiện đại. Nội dung tài liệu là kim chỉ nam cho cán bộ an sinh xã hội cơ sở. Sinh viên vận dụng kiến thức lý thuyết vào các kỳ thực tập cộng đồng tại địa phương. Cuốn sách cung cấp phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người và sự trao quyền. Người nghèo không còn là đối tượng thụ hưởng thụ động mà trở thành chủ thể kiến tạo cuộc sống. Các chương trình giảm nghèo quốc gia áp dụng mô hình can thiệp của giáo trình để tối ưu nguồn lực ngân sách. Nhân viên xã hội hỗ trợ thân chủ nhận diện tiềm năng nội tại để vượt khó. Sự kết hợp giữa đào tạo kỹ năng sản xuất và kết nối thị trường đem lại kết quả bền vững. Giáo trình tiếp tục giữ vững vị trí tài liệu tham khảo then chốt trong hệ thống giáo dục đại học. Những giải pháp đề xuất trong tác phẩm đóng góp tích cực vào mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước.

4.1. Giá trị học thuật đối với sinh viên ngành công tác xã hội

Giáo trình đóng vai trò nền tảng trong khung chương trình cử nhân công tác xã hội. Cuốn sách giúp sinh viên chuyển hóa lý thuyết lớp học thành kỹ năng thực tế ngoài cộng đồng. Người học rèn luyện tư duy phân tích chính sách và kỹ năng đánh giá nhu cầu gia đình nghèo. Tài liệu cung cấp các tình huống thực tế để thực hành phương pháp can thiệp cá nhân và nhóm. Đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực ứng xử xã hội được nhấn mạnh xuyên suốt từng bài giảng. Sinh viên nắm vững cách thức lập hồ sơ quản lý trường hợp và theo dõi tiến trình can thiệp. Năng lực làm việc chuyên nghiệp giúp cử nhân đáp ứng tốt yêu cầu công việc sau khi tốt nghiệp.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình hỗ trợ sinh kế cộng đồng

Các mô hình hỗ trợ sinh kế trong giáo trình có tính ứng dụng cao tại các địa phương. Cán bộ cơ sở vận dụng quy trình quản lý sản xuất để hỗ trợ người dân lập dự án nhỏ. Việc kết nối giữa đào tạo nghề và chuỗi tiêu thụ sản phẩm giúp hạn chế rủi ro tồn đọng hàng hóa. Mô hình nhóm tương trợ và tiết kiệm tín dụng vi mô được nhân rộng hiệu quả. Người nghèo học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và cùng kiểm soát nguồn vốn vay an toàn. Chính quyền các cấp sử dụng tài liệu này để đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ giảm nghèo. Cách tiếp cận chú trọng nội lực cộng đồng tạo đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/10/2026
Giáo trình công tác xã hội với người nghèo

Trích đoạn nội dung tài liệu

TRƯỜNG ĐAI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI TS. Nguyễn Thị Thái Lan GIÁO TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI NGHÈO NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG - XÃ HỘI 2010 1 Bài 1: VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO I. Những vấn đề chung về nghèo đói Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn, trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu về tiến bộ khoa học công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thế mà thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói. Đói nghèo diễn ra trên tất cả các Châu lục với những mức độ khác nhau, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách, phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong khi thực hiện.

Để hình thành các giải pháp giảm bớt sự nghèo đói, cần thiết có những khái niệm đúng đắn về sự nghèo đói. Nghèo theo quan niệm của Thế giới “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” 1. Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith quan niệm: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như các cần thiết tối thiểu để sống một cảnh đúng mức”.

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tại Copenhagen (Đan Mạch), 1995 đưa ra định nghĩa nghèo đói cụ thể hơn: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la Mỹ (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” 2. Quan niÖm vÒ nghÌo ®ãi cña tõng quèc gia hay tõng vïng, tõng nhãm d©n c-, nh×n chung kh«ng cã sù kh¸c biÖt ®¸ng kÓ. Tiªu chÝ chung nhÊt ®Ó x¸c ®Þnh nghÌo ®ãi vÉn lµ møc thu nhËp hay chi tiªu ®Ó tho¶ m·n nh÷ng nhu cÇu c¬ b¶n cña con ng-êi vÒ ¨n, ë, mÆc, y tÕ, gi¸o dôc, v¨n ho¸, ®i l¹i vµ giao tiÕp x· héi. Sù kh¸c nhau chØ lµ tho¶ m·n ë møc cao hay thÊp mµ th«i.

§iÒu nµy phô thuéc vµo tr×nh ®é ph¸t triÓn kinh tÕ - x· héi còng nh- phong tôc tËp qu¸n cña tõng vïng, tõng quèc gia. Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như giáo dục, sức khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương. Theo tổ chức này “Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”. 1 Hội nghị về chống đói nghèo do ủy ban kinh tế–xã hội khu vực Châu Á –Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại BangKok, Thái Lan 9/1993.

2 Chương trình giảm nghèo khổ, phó tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí lao động – xã hội 8/92. 2 Ngoài ra, Liên hiệp quốc cũng phân nghèo thành hai loại: - Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống hằng ngày như ăn, mặc, nhà ở, nước uống, vệ sinh, y tế, giáo dục và sự tham gia vào các quyết định của cộng đồng. - Nghèo tương đối: là những hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn thu nhập bình quân trong cộng đồng, hay không có khả năng đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào đó.2 Khái niệm nghèo của Việt Nam Quan niệm của Việt Nam về nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Các khái niệm về nghèo cụ thể như sau: - Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư vẫn còn thiếu ăn, nhưng không đứt bữa, mặc không đủ ấm, nhà ở chủ yếu là tranh tre, không có hoặc không đủ các điều kiện để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và đáp ứng các nhu cầu về học tập, chữa bệnh cũng như các nhu cầu xã hội khác.

Ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: + Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; + Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; + Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. - Hộ nghèo: là hộ có thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng nhỏ hơn hoặc bằng chuẩn nghèo. - Hộ cận nghèo: là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo. - Hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn: là hộ dân tộc thiểu số phải là hộ nghèo, trình độ sản xuất lạc hậu chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, thiếu đất sản xuất và không có tài sản hoặc có nhưng giá trị rất thấp.

- Người nghèo: là người có tên trong sổ chứng nhận hộ nghèo/sổ theo dõi quản lý hộ nghèo. - Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang vùng ven biển và hải đảo: là các xã có vị trí ở vùng bãi ngang ven biển hoặc là các xã cồn, bãi, đầm phá, bán đảo, hải đảo và có đủ các điều kiện sau: + Là các xã nghèo theo tiêu chí xã nghèo do Bộ LĐTBXH quy định tại Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/5/2002 và không thuộc xã 135; + Còn thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, tuỳ theo điều kiện cụ thể từng xã, bao gồm: bờ bao chống triều cường, kè, công trình thuỷ lợi, trạm bơm cấp nước biển cho nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, đường ra bến cá, chợ cá 3. 3 Quyết định số 257/2003/QĐ-TTg ngày 03/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ. 3 - Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên, được xác định theo chuẩn nghèo hiện hành.

Chuẩn nghèo Phương pháp chung nhất mà các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế xác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu (phương pháp tiền tệ) để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người, trước hết người ta tính mức chi tiêu cho nhu cầu lương thực thực phẩm (đường nghèo lương thực thực phẩm) để bình quân hằng ngày một người có được 2.100 Kcal, thông thường chi cho lương thực thực phẩm chiếm 60-65% tổng chi tiêu, tiếp đến người ta tính mức chi tiêu cho các nhu cầu phi lương thực thực phẩm, nhu cầu này chiếm khoảng 35-40% tổng chi tiêu. Lưu ý: kinh tế càng phát triển thì tỷ trọng chi cho nhu cầu lương thực thực phẩm ngày một giảm và chi cho nhu cầu phi lương thực thực phẩm ngày một tăng. Tổng chi tiêu cho lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm được gọi là đường nghèo hay chuẩn nghèo (đường nghèo chung). Để cho tiện việc điều tra khảo sát, tính toán đánh giá người ta chuyển từ nhu cầu chi tiêu sang mức thu nhập.

Những người có thu nhập từ chuẩn nghèo trở xuống được xếp vào nhóm người nghèo. Tuy nhiên, hiện nay người ta quan tâm đến phương pháp đo lường nghèo đa chiều. Bản chất của phương pháp này thể hiện thông qua việc bao quát nhiều mặt như về giáo dục, chăm sóc y tế, điều kiện vui chơi giải trí, nước sạch và vệ sinh, cơ hội tham gia xã hội và được bảo vệ (các khía cạnh phi tài chính của nghèo). Cụ thể ở nước ta tiếp cận chuẩn nghèo theo phương pháp sau: - Trước hết, căn cứ vào nhu cầu tối thiểu, nhu cầu này được lượng hoá bằng mức chi tiêu về lương thực thực phẩm thiết yếu để duy trì cuộc sống với năng lượng tiêu dùng từ 2100- 2300 kcal/người/ngày.

- Căn cứ vào mức thu nhập binh quân đầu người một tháng, trong đó đặc biệt quan tâm đến mức thu nhập bình quân đầu người trên tháng của nhóm có thu nhập thấp nhất với nhóm có thu nhập cao nhất. - Căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia, của từng địa phương đã được cụ thể hoá bằng mục tiêu trong chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo. Như vậy, căn cứ để xác định chuẩn nghèo phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng địa phương, từng quốc gia, đó là yếu tố khách quan, song trong đó cũng có yếu tố chủ quan của các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Chuẩn mực nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo thời gian, không gian, giới tính và môi trường: - Về thời gian: chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử, vì rằng kinh tế xã hội phát triển, thì đời sống của con người cũng được cải thiện tốt hơn, tất nhiên không phải tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ tăng thu nhập, mức sống cao hơn 4 nhóm nghèo.

Phần lớn người nghèo là những người có mức sống dưới mức được định nghĩa như là chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một thời gian dài. - Về không gian: nghèo biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội của từng vùng hay từng quốc gia. Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở khu vực nông thôn nơi có ¾ dân số sinh sống, theo các tài liệu nghiên cứu về đói nghèo ở Việt Nam thì phần lớn nghèo đói diễn ra ở vùng miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. - Về giới tính: đa số người nghèo là phụ nữ, nhiều hộ gia đình nghèo do phụ nữ làm chủ hộ.

Trong các hộ gia đình nghèo công việc của người phụ nữ gấp đôi nam giới. - Về môi trường: hầu hết người nghèo sống ở các vùng sinh thái khắc nghiệt mà ở đó tình trạng nghèo đói và sự xuống cấp về môi trường có chiều hướng tăng lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Thị Thái Lan (2010), Giáo trình công tác xã hội với người nghèo, Giáo trình, Trường Đại học Lao động Xã hội.
APA 7
Nguyễn, T. T. L. (2010). Giáo trình công tác xã hội với người nghèo [Giáo trình, Trường Đại học Lao động Xã hội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giao-trinh-cong-tac-xa-hoi-voi-nguoi-ngheo-dh-lao-dong-xa-hoi/9535465763
IEEE
T. T. L. Nguyễn, "Giáo trình công tác xã hội với người nghèo," Giáo trình, Trường Đại học Lao động Xã hội, 2010. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giao-trinh-cong-tac-xa-hoi-voi-nguoi-ngheo-dh-lao-dong-xa-hoi/9535465763

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác

Giáo trình Công tác xã hội với người nghèo của TS. Nguyễn Thị Thái Lan cung cấp nền tảng lý thuyết và kỹ năng thực hành chuyên sâu, giúp người đọc nắm vững phương pháp trợ giúp các đối tượng yếu thế cải thiện sinh kế. Cuốn sách đặc biệt hữu ích cho sinh viên và cán bộ an sinh trong việc quản lý ca, tham vấn và vận động chính sách xã hội. Để nâng cao hiệu quả can thiệp, người học có thể đối chiếu thực tế với mô hình <strong>liên kết nguồn lực cộng đồng</strong> trong hỗ trợ người dân. Đồng thời, việc phát huy giải pháp <strong>kết nối nguồn lực giảm nghèo</strong> sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực trợ giúp xã hội. Đây là tiền đề quan trọng nhằm thúc đẩy mục tiêu <strong>giảm nghèo theo hướng bền vững</strong> tại các địa phương.