CHƯƠNG 1 CÔN TRÙNG VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI Giới thiệu: Nội dung bài học cung cấp những kiến thức cơ bản về sự khác biệt của côn trùng với những động vật khác và những tác động của chúng đối với đời sống và sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu: Kiến thức: + Trình bày được vị trí của lớp côn trùng trong hệ thống phân loại. + Cung cấp kiến thức về tầm quan trọng của côn trùng đối với đời sống con người và sản xuất nông nghiệp. Kỹ năng: + Phân biệt được lớp côn trùng so với những lớp khác trong cùng ngành.
+ Thu thập và tồn trữ mẫu côn trùng. Năng lực tự chủ và trách nhiệm: có tinh thần học tập, chủ động học hỏi, có phương pháp làm việc khoa học, sáng tạo và luôn cập nhật thông tin. Vị trí của côn trùng trong giới động vật Côn trùng thuộc ngành chân khớp (Arthropoda) hay còn được gọi là chân đốt, tiết túc. Các lớp trong ngành có những đặc điểm chung như sau: - Cơ thể phân đốt (2-3 đốt), thường kết hợp lại thành những vùng chuyên biệt, đối xứng song phương.
Trên mỗi đốt thường mang các chi phụ. - Vách da cơ thể là bộ xương ngoài có cấu tạo chitine, vách da này thường được thay thế bằng một lớp da mới khi côn trùng lớn lên nhờ hiện tượng lột xác. - Hệ tuần hoàn hở, hệ thần kinh gồm có não ở trên đầu và chuỗi thần kinh bụng, hệ bài tiết chủ yếu là ống Malpighi, hô hấp bằng hệ thống khí quản và lỗ thở. Một số đặc điểm có liên quan tới cấu tạo, sinh lý và đời sống côn trùng Côn trùng là nhóm động vật có số loài lớn nhất trong giới động vật, hàng trăm ngàn loài đã được mô tả và cho đến nay vẫn còn rất nhiều loài chưa được mô tả; không những số loài mà thành phần các cá thể trong loài cũng rất lớn.
Là động vật không xương sống duy nhất có cánh. Nhờ cánh, côn trùng có thể phát tán và hiện diện hầu như mọi nơi trên trái đất. Hơn nữa do kích thước nhỏ, biến động từ 0,25-330 mm nên côn trùng có thể sống ở những chỗ mà những loài động vật lớn hơn không thể sống được, và cũng nhờ kích thước nhỏ nên chỉ cần một lượng thức ăn nhỏ cũng giúp cho chúng sinh sôi nảy nở và tồn tại. Thuộc nhóm động vật máu lạnh, nhiệt độ cơ thể có thể biến đổi theo nhiệt độ của môi trường chung quanh, do đó côn trùng có thể sống sót được dễ dàng trong những điều kiện khí hậu bất lợi.
Khi nhiệt độ môi trường giảm, nhiệt độ cơ thể côn trùng cũng giảm, dẫn đến các quá trình sinh lý cũng giảm thấp. Vào mùa đông, côn trùng có thể đi vào giai đoạn ngừng phát dục và chỉ hoạt động trở lại khi điều kiện khí hậu trở lại bình thường. Ngoài những đặc điểm trên côn trùng còn có khả năng sinh sản rất cao, một con côn trùng có thể đẻ từ vài trứng đến hàng nghìn trứng. Nhiều loài lại có chu kỳ sinh trưởng rất ngắn, trong một năm có thể có hàng chục thế hệ, vì vậy có khả năng gia tăng mật số cao và phát sinh thành dịch trong một thời gian ngắn.
Kết quả khảo sát của ngành địa chất học và hóa thạch học cho thấy côn trùng đã xuất hiện trên trái đất từ 350 triệu năm trước đây và trong suốt thời gian này chúng đã tiến hóa không ngừng trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau. Điều này đã cho thấy côn trùng có sức sống và tính thích nghi rất mạnh. Mặc dù số lượng loài rất lớn, chiếm từ 2/3 - 3/4 tổng số loài của giới động vật nhưng thật ra số sâu hại chỉ chiếm dưới 10 % tổng số loài côn trùng và các loài sâu hại quan trọng không chiếm quá 1 %. Vì bên cạnh những loài gây hại cho nông nghiệp, gây bệnh cho con người và những động vật cấp cao khác, có mộtsố lượng lớn côn trùng rất có lợi cho con người như: thụ phấn cho cây trồng; cung cấp thức ăn cho con người và các động vật khác; cung cấp các sản phẩm công nghiệp cho con người (tơ, sáp,.); tạo chất dinh dưỡng cho cây cối qua việc phân hóa các chất mục nát của động, thực vật; phối hợp với sự hoạt động của vi sinh vật để tạo ra các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây; nhiều loài côn trùng đã được sử dụng trong nghiên cứu khoa học và y học như ruồi dấm, ong,.
Vai trò thiên địch của côn trùng trong việc hạn chế và tiêu diệt những loài gây hại cũng đã được biết rất nhiều trong những năm qua, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi quan điểm về quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đã được xem là chiến lược đối phó với các loài dịch hại trên cây trồng. Côn trùng có ích 3. Côn trùng và vấn đề thụ phấn Chỉ có một số thực vật cấp cao là tự thụ phấn, hầu hết là thụ phấn chéo, phấn được đưa từ hoa này đến hoa khác bằng hai cách: gió và côn trùng. Rất nhiều loại cây trồng thuộc họ Rosacea như táo, lê, dâu tây,.
dựa chủ yếu vào ong mật để thụ phấn, nhiều loại thực vật khác cũng phải nhờ vào nhiều loại ong khác nhau để thụ phấn. Côn trùng thụ phấn không phải chỉ bao gồm các loại ong mà còn nhờ nhiều loại côn trùng khác nữa như ngài, bướm, kiến, ruồi,. Tuy nhiên loài giữ vai trò lớn nhất cho sự thụ phấn có lẽ là ong mật Aphis mellifera, nếu không có những loài này thì gần như không thể sản xuất được phần lớn những loại thực vật như cam, quít, bầu, bí, dưa,. Loại ong mật này ngày càng trở nên quan trọng hơn nhờ được thuần hóa và nuôi dưỡng với một số lượng rất lớn trong tự nhiên.
Vấn đề thụ phấn do côn trùng thực hiện rất quan trọng, hàng năm năng suất của các loại thực vật được thụ phấn bởi côn trùng ước lượng khoảng 8tỉ đô la Mỹ. Côn trùng thụ phấn và phát tán cho cây cỏ trong tự nhiên giúp ổn định thảm thực vật tạo nên sự cân bằng về sinh thái và khí hậu của địa cầu. Sản phẩm thương mại từ côn trùng a) Tơ tằm Lụa tơ tằm được dệt từ nguồn sợi tự nhiên là tơ tằm do ấu trùng của bướm tằm Bombyx mori L. (Lepidoptera) tiết ra từ tuyến nước bọt của chúng.
Tơ tằm được xem là loại sợi tự nhiên bền chắc nhất, nó có thể chịu được độ căng tương đương với sợi thép và nylon, nhưng lại mềm dẻo hơn. Lụa được dệt từ tơ tằm có thể giữ ấm trong mùa đông, mát trong mùa hè, không bị nhăn nheo và rất nhẹ. Cho đến trước khi sợi nylon được khám phá vào năm 1918, tơ tằm là loại sợi duy nhất được dùng để sản xuất dù cho phi công, chỉ phẫu thuật và hàng dệt kim dành cho phụ nữ. Một vài loài bướm, hầu hết thuộc nhóm Antherea spp.
phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản, cũng tiết ra tơ. Tuy nhiên, lụa dệt từ các loại tơ này thường dày, sậm màu và có giá trị thấp hơn so với được dệt từ tơ tằm. b) Mật và sáp ong Mật và sáp ong được sản xuất bởi ong mật Apis mellifera. Mật ong là một trong những nguồn thực phẩm chính của tổ ong, được tạo thành từ các hạt mật hoa do những con ong thợ tập hợp lại.
Hầu hết mật ong được dùng làm chất ngọt hay để thay thế cho đường trong ngành thực phẩm nướng; nó còn được dùng làm thuốc ho, thuốc trị bỏng và nhuận tràng. 3 Ngoài mật và sáp, ong còn cung cấp những sản phẩm khác như keo ong, nọc ong (dùng làm thuốc gây tê) và sữa ong chúa (dùng để bổ sung vào thực phẩm hoặc mỹ phẩm). c) Sen-lắc (shellac) Lac là một loại nhựa hữu cơ giống như nhựa thông (resin) do loài rệp Laccifera lacca (Homoptera: Kerridae) sống trên cây bồ hòn và cây keo ở Ấn Độ và Đông Nam Á tiết ra. Sen-lắc (shellac) được điều chế bằng cách hòa tan lac trong cồn.
Ngày nay mặc dù một phần lớn sen-lắc (vec-ni) được thay thế bởi những vật liệu tổng hợp như polyurethane và vinyl, nhưng nó vẫn còn được sử dụng như là chất làm cứng nón nỉ, giầy da, xi gắn, nhiều loại mực, thuốc nhuộm và nước bóng. Lac là loại nhựa thương mại duy nhất có nguồn gốc từ động vật. d) Phẩm son Phẩm son (cochineal) là một sắc tố màu đỏ tươi được ly trích từ xác của loài rệp đỏ Dactylopius coccus C. (Hemiptera: Dactylopiidae) sống trên cây xương rồng gai lê ở Mexico và Trung Mỹ.
Đầu tiên loại phẩm nhuộm này được những thổ dân da đỏ Aztec sử dụng làm thuốc uống, thuốc nhuộm vải và màu vẽ cơ thể. Ngày nay, ngành công nghiệp vải sợi đã hầu như chỉ sử dụng những loại thuốc nhuộm anilin rẻ tiền. Tuy nhiên, phẩm yên chi vẫn được sử dụng để làm màu của thực phẩm, thức uống và mỹ phẩm trang điểm (chủ yếu là son môi) và trong các tác phẩm nghệ thuật. e) Côn trùng làm thực phẩm Trên 1.000 loài côn trùng thuộc hơn 370 giống của 90 họ đã được sử dụng làm thực phẩm ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở vùng Trung và Nam Phi, Châu Á, Úc và Mỹ Latinh.
Dế, mối, cào cào, kiến, ấu trùng của ong, kiến và nhộng tằm là nhóm côn trùng được sử dụng làm thức ăn nhiều nhất. Mặc dù thực phẩm được chế biến từ côn trùng chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất, cùng với hàm lượng protein và năng lượng khá cao. Tuy nhiên, những món ăn từ côn trùng phổ biến ở châu Á còn các nước phương Tây vẫn e dè với loại thực phẩm này. Côn trùng là lớp sinh vật giữ vai trò then chốt trong mạng lưới năng lượng (chủ yếu là lưới thức ăn) của hệ sinh thái do chúng là nhóm ăn thực vật và xác bả hữu cơ chủ yếu, đồng thời chúng lại là nguồn thức ăn chủ yếu của rất nhiều loài động vật khác.
Côn trùng thiên địch Côn trùng có khả năng sinh sản cũng như gia tăng mật số rất nhanh, nhưng mật số cao ít khi đạt được vì côn trùng thường bị nhiều loại động vật khác tấn 4 công làm giới hạn mật số. Phần lớn động vật tấn công này cũng thuộc lớp côn trùng. Tác động của các côn trùng thuộc loại ăn mồi rất lớn, có thể nói không có gì mà con người làm có thể so sánh với tác động của côn trùng ăn mồi. Tuy vậy cho đến nay sự hiểu biết và đánh giá của con người về côn trùng ăn động vật rất giới hạn.