Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Dành Cho Bậc Đại Học

Giáo trình về cnxhkh đại học 2, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2019

97
103
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

1.1. Sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học

1.2. Các giai đoạn phát triển cơ bản của Chủ nghĩa xã hội khoa học

1.3. Đối tượng, phương pháp và ý nghĩa của việc nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học

2. SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

2.1. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân

2.2. Giai cấp công nhân và việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay

2.3. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

3. CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

3.1. Chủ nghĩa xã hội

3.2. Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

3.3. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

4. DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

4.1. Dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa

4.2. Nhà nước xã hội chủ nghĩa

4.3. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

5. CƠ CẤU XÃ HỘI – GIAI CẤP VÀ LIÊN MINH GIAI CẤP, TẦNG LỚP TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

5.1. Cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

5.2. Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

5.3. Cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

6. VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

6.1. Dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

6.2. Tôn giáo trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

6.3. Quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam

7. VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

7.1. Khái niệm, vị trí và chức năng của gia đình

7.2. Cơ sở xây dựng gia đình trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

7.3. Xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học dành cho sinh viên đại học là một tài liệu quan trọng, cung cấp kiến thức cơ bản về lý thuyết và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội. Tài liệu này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ về các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà còn trang bị cho họ những kỹ năng phân tích xã hội cần thiết. Nội dung giáo trình được biên soạn bởi các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực lý luận chính trị, nhằm đảm bảo tính chính xác và cập nhật.

1.1. Mục tiêu và ý nghĩa của giáo trình

Giáo trình nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức vững chắc về chủ nghĩa xã hội, giúp họ nhận thức rõ vai trò của mình trong xã hội. Nó cũng khuyến khích sinh viên phát triển tư duy phản biện và khả năng phân tích các vấn đề xã hội hiện nay.

1.2. Cấu trúc và nội dung chính của giáo trình

Giáo trình được chia thành nhiều chương, mỗi chương tập trung vào một khía cạnh khác nhau của chủ nghĩa xã hội, từ lịch sử hình thành đến các vấn đề hiện tại. Điều này giúp sinh viên dễ dàng theo dõi và nắm bắt kiến thức.

II. Những thách thức trong việc giảng dạy Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

Việc giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học gặp nhiều thách thức, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại. Sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế và chính trị đã tạo ra những khó khăn trong việc truyền đạt các lý thuyết cũ. Hơn nữa, sự thiếu hụt tài liệu và nguồn lực giảng dạy cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Khó khăn trong việc cập nhật nội dung giảng dạy

Nội dung giáo trình cần thường xuyên được cập nhật để phản ánh đúng thực tiễn xã hội. Tuy nhiên, việc này đòi hỏi sự nỗ lực lớn từ các giảng viên và nhà biên soạn.

2.2. Sự phản đối từ một số nhóm xã hội

Một số nhóm trong xã hội có thể phản đối việc giảng dạy chủ nghĩa xã hội, cho rằng nó không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Điều này tạo ra áp lực cho các giảng viên trong việc bảo vệ quan điểm của mình.

III. Phương pháp giảng dạy hiệu quả cho Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

Để giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại. Việc kết hợp lý thuyết với thực tiễn sẽ giúp sinh viên dễ dàng tiếp thu kiến thức. Các hoạt động nhóm, thảo luận và nghiên cứu thực địa cũng nên được khuyến khích.

3.1. Sử dụng công nghệ trong giảng dạy

Công nghệ có thể hỗ trợ giảng viên trong việc truyền đạt kiến thức một cách sinh động và hấp dẫn hơn. Việc sử dụng video, bài giảng trực tuyến và các công cụ tương tác sẽ giúp sinh viên hứng thú hơn với môn học.

3.2. Khuyến khích thảo luận và phản biện

Thảo luận và phản biện là những phương pháp quan trọng giúp sinh viên phát triển tư duy phản biện. Việc tạo ra môi trường học tập cởi mở sẽ khuyến khích sinh viên chia sẻ ý kiến và quan điểm của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học trong xã hội hiện đại

Chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong xã hội hiện đại. Các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội có thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề xã hội như bất bình đẳng, nghèo đói và bảo vệ môi trường.

4.1. Giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội

Chủ nghĩa xã hội khoa học cung cấp các giải pháp để giảm thiểu bất bình đẳng trong xã hội. Việc phân phối tài nguyên công bằng và tạo cơ hội cho mọi người đều là những mục tiêu quan trọng.

4.2. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Việc phát triển bền vững là một trong những mục tiêu hàng đầu của chủ nghĩa xã hội hiện đại.

V. Kết luận và tương lai của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

Chủ nghĩa xã hội khoa học vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc định hình tư tưởng và chính sách xã hội. Tương lai của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi của xã hội và sự phát triển của khoa học công nghệ.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu và phát triển là cần thiết để đảm bảo rằng chủ nghĩa xã hội khoa học luôn phù hợp với thực tiễn. Việc đầu tư vào nghiên cứu sẽ giúp tạo ra những giải pháp mới cho các vấn đề xã hội.

5.2. Định hướng tương lai cho sinh viên

Sinh viên cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để trở thành những người lãnh đạo trong tương lai. Việc hiểu rõ về chủ nghĩa xã hội sẽ giúp họ có cái nhìn toàn diện hơn về xã hội.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC A. Về kiến thức: Sinh viên có kiến thức cơ bản, hệ thống về sự ra đời, các giai đoạn phát triển; đối tượng, phương pháp và ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học, một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác – Lênin. Về kỹ năng: sinh viên có khả năng luận chứng được khách thể và đối tượng nghiên cứu của một khoa học và của một vấn đề nghiên cứu; phân biệt được những vấn đề chính trị - xã hội trong đời sống hiện thực. Về tư tưởng: Sinh viên có thái độ tích cực với việc học tập các môn lý luận chính trị; có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng và sự thành công của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.

Sự ra đời của Chủ nghĩa xã hội khoa học Chủ nghĩa xã hội khoa học được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, Chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác – Lênin, luận giải từ các giác độ triết học, kinh tế học chính trị và chính trị - xã hội về sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Lênin đã đánh giá khái quát bộ “Tư bản” – tác phẩm chủ yếu và cơ bản trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học ….những yếu tố từ đó nảy sinh ra chế độ tương lai”1 Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen đã viết ba phần: “triết học”, “kinh tế chính trị” và “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Lênin, khi viết tác phẩm “Ba nguồn gốc và ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác”, đã khẳng định: “Nó là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỉ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp”.2 Trong khuôn khổ môn học này, chủ nghĩa xã hội khoa học được nghiên cứu theo nghĩa hẹp.

Hoàn cảnh lịch sử ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học 1. Điều kiện kinh tế - xã hội Vào những năm 40 của thế kỉ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp.Nền đại công nghiệp cơ khí làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có bước phát triển vượt bậc. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Ăngghen đánh giá: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỉ đã tạo ra một lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước đây gộp lại”3. Cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp, sự ra đời hai giai cấp cơ bản, đối lập về lợi ích, nhưng nương tựa vào nhau: giai cấp tư sản và giai cấp công nhân.

Cũng từ đây, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bức của giai cấp tư sản, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn ngày càng quyết iệt giữa lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Do đó, nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu và từng bước có tổ chức và trên quy mô rộng khắp. Phong trao Hiến chương của những người lao động ở nước Anh diễn ra trên 10 năm (1836 - 1848); phong trào công nhân dệt ở thành phố Xi-lê-di, nước Đức diễn ra năm 1844. Đặc biệt, phong trào công nhân dệt thành phố Li-on, nước Pháp diễn ra vào năm 1831 và năm 1834 đã có tính chất chính trị rõ nét.

Nếu năm 1831, phong trào đấu tranh 1 V. Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M. Lênin, Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, M.Ăngghen, Toàn tập, Nxb, CTQG, Hà Nội, 1995, t.603 Trang6 /97 của giai cấp công nhân Li-on giương cao khẩu hiệu thuần túy có tính chất kinh tế “sống có việc làm hay là chết trong đấu tranh” thì đến năm 1834, khẩu hiệu của phong trào đã chuyển sang mục đích chính trị: “Cộng hòa hay là chết”. Sự phát triển nhanh chóng có tính chất chính trị công khai của phong trào công nhân đã minh chứng, lần đầu tiên, giai cấp công nhân đã xuất hiện như một lực lượng chính trị độc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị riêng của mình và đã bắt đầu hướng thẳng mũi nhọn của cuộc đấu tranh vào kẻ thù chính của mình là giai cấp tư sản.

Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đòi hỏi một cách bức thiết phải có một hệ thống lí luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động. Điều kiện kinh tế - xã hội ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của giai cấp công nhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự ra đời của một lý luận mới tiến bộ - chủ nghĩa xã hội khoa học. Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lí luận a) Tiền đề khoa học tự nhiên Sau thế kỉ ánh sáng, đến đầu thế kỉ XIX, nhân loại đã đạt được nhiều thành tựu lớn trên lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là ba phát minh tạo nền tảng cho phát triển tư duy lý luận. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lí học và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Học thuyết Tiến hóa; Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; Học thuyết tế bào1.

Những phát minh này là tiền đề khoa học cho sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở phương pháp luật cho các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những cấn đề lí luậnn chính trị - xã hội đương thời. b) Tiền đề tư tưởng lý luận Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có triết học cổ điển Đức với tên tuổi của các nhà triết học vĩ đại: Hegel (1770 - 1831) Và L. Những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp đã có những giá trị nhất định: 1) Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột, của cái khánh kiệt, đọa đức đảo lộn, tội ác gia tăng; 2) đã đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hội tương lai: về tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội; vai trò của công nghiệp và khoa học – kĩ thuật; yêu cầu xóa bỏ sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ và về vai trò lịch sử của nhà nước….; 3) chính những tư tưởng có tính phê phán và sự dấn thân trong thực tiễn của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng, trong chừng mực, đã thức tỉnh giai cấp công nhân và người lao động trong cuộc đấu tranh chống chế độ quân chủ chuyên chế và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy bất công, xung đột. Tuy nhiên, những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng phê phán còn không ít những hạn chế hoặc do điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế về tầm nhìn và thế giới quan của những nhà tư tưởng, chẳng hạn, không phát hiện ra được quy luạt vận động và phát triển của xã hội loài người nói chung; bản chất, quy luật vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản nói riêng; không phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong có thể thực hiện cuộc chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, giai cấp công nhân; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội áp bức, bất công đương thời, xây dựng xã hội mới tốt đẹp.Lênin trong tác phẩm “Ba nguồn gốc, ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác” đã nhận xét: chủ nghĩa xã hội không tưởng không thể vạch ra được lối thoát thực sự.

Nó không giải thích được bản chất của chế độ làm thuê trong chế độ tư bản, cũng không phát hiện ra được những quy luật phát triển 1 Học thuyết Tiến hóa (1859) của người Anh Charles Robert Darwin (1809 - 1882); Định luật Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (1842 - 1845), của người Nga Mikhail Vasilyevich Lomonosov (1711 - 1765) và Người Đức Julius Robert Mayer (1814 - 1878); Học thuyết tế bào (1838 - 1839) của nhà thực vật học người Đức Matthias Jakob Schleiden (1804 - 1881) và nhà vật lí học người Đức Theodor Schwam (1810 - 1882). Trang7 /97 của chế độ tư bản và cũng không tìm ra được lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo ra xã hội mới. Chính vì những hạn chế ấy, mà chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán chỉ dừng lại ở mức độ một học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng – phê phán. Song vượt lên tất cả, những giá trị khoa học, cống hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đề tư tưởng – lý luận, để C.Ăngghen kế thừa những hạt nhân hợp lí, xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học.

Vai trò của Các Mác và Phriđrích Ăngghen Những điều kiện kinh tế - xã hội và những tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận là điều kiện cần thiết cho một học thuyết ra đời, song điều kiện đủ để học thuyết khoa học, cách mạng và sáng tạo ra đời là vai trò của C.Ăngghen (1820 - 1895) trưởng thành ở Đức, đất nước có nền triết học phát triển rực rỡ với thành tựu nổi bật là chủ nghĩa duy vật của L.Feuerbach và phép biện chứng của Vilhelm Friedrich Hegel. Bằng trí tuệ uyên bác và sự dấn thân trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động C.Ăngghen đến với nhau, đã tiếp thu các giá trị của nền triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và kho tàng tri thức của nhân loại để các ông trở thành những nhà khoa học thiên tài, những nhà cách mạng vĩ đại nhất thời đại. Sự chuyển biến lập trường triết học và lập trường chính trị Thoạt đầu, khi bước vào hoạt động khoa học, C.Ăngghen là hai thành viên tích cực của câu lạc bộ Hegel trẻ và chịu ảnh hưởng của quan điểm triết học của Vilhelm Friedrich Hegel và L.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ