mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng tháng 8/1945 đã đổi đời các dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nhất quán từ đầu là 10 bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng đất nước theo mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Thực hiện chính sách dân tộc đúng đắn và sáng tạo trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất to lớn, rất mới mẻ, rất hiện đại. Cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông đường bộ, thuỷ lợi, viễn thông đã phát triển đến tuyến huyện và đang chuyển dần về xã, bản, nhanh, chậm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng.
Với tư cách là người làm chủ đất nước, các dân tộc tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước ngày càng nhiều, cao hơn. Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật được Đảng và Nhà nước quan tâm đào tạo. Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng trong các dân tộc. Vốn văn hoá, nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc được sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu, phát huy.
Thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, các dân tộc vốn gắn bó với nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nay lại càng gắn bó đoàn kết với nhau hơn trong công cuộc xây dựng đất nước. Những thành tựu đạt được trên là cơ sở vững chắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí, nâng cao đời sống, phát triển các dân tộc. DANH MỤC THÀNH PHẦN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM TT Dân tộc Tên tự gọi Tên gọi khác Nhóm địa phương 1 Kinh (Việt) Kinh 2 Tày Thổ Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí. 3 Thái Tay, Thay Tay Thanh, Man Ngành Đen (Tay Thanh, Tay Mười, Đăm).
Ngành Trắng Tay Mường, Hàng (Tay Đón hoặc Tổng, Tay Dọ, Thổ Khao) 4 Mường Mol (Mon, Moan, Ao Tá (Âu Tá), Bi Mual) 5 Hoa (Hán) Khách, Hán, Tàu Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thảng Nhằm, Minh Hương, Hẹ. 6 Khmer Khmer Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khmer K'rôm 7 Nùng Nồng Nùng Giang, Nùng 11 Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín 8 HMông(Mèo) Hmông, Na miẻo Mẹo, Mèo, Miếu Hmông Trắng, Ha, Mán Trắng Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na miẻo 9 Dao Kìm Miền, Kìm Mùn Mán Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, DaoTiền, Dao Quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn 10 Gia-rai Gia Rai Giơ Ray, Chơ Ray Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân 11 Ê-đê Anăk Ê Đê Anăk Ê Đê, Ra Đê, Kpă, Adham, Ê Đê-Êgar, Đê Krung, Mđhu, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, arul, Hwing, Ktlê, Êpan 12 Ba-na Ba Na BơNâm, Roh, Kon Rơ Ngao, Rơ Lơng Kđe, Ala Kông, (Y Lăng), Tơ Lô, Kpang Kông Gơ Lar, Krem 13 Sán Chay Sán Chay Hờn Bán, Chùng, Cao Lan, Sán Chỉ (Cao lan - Trại. Sán chỉ) 14 Chăm(chàm) Chàm, Chiêm, Chăm Hroi, Chăm Chiêm thành, Chăm Pông, Chà Và Ku, Pa, Hời. Chăm Châu Đốc 15 Xê-đăng Xơ Teng, Tơ Đrá, Xơ Đăng, Kmrâng, Xơ Trng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Con Lan, Brila.
Ca Dong, Lăng, Tà Trĩ., Châu Ha Lăng, Tà Trĩ, 12 Châu. 16 Sán Dìu San Déo Nhín ( Sơn Trại, Trại Đất, Mán Dao Nhân) Quần Cộc, Mán Váy xẻ 17 Hrê Hrê Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Lũy, Sơn Phòng, Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Chòm, Rê, Man Thạch Bích. 18 Cơ-ho Cơ-Ho Xrê, Nộp (Tu Nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring. 19 Ra Glay Rai, Hoang, La Oang 20 M'Nông M'Nông Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Đíp, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Đâng, Mnông Bu Đêh.
21 Thổ Thổ Người Nhà làng. Kẹo, Mọn, Cuối, Mường, Con Kha, Họ, Đan Lai, Li Hà, Xá Lá Vàng Tày Poọng 22 Xtiêng Xa Điêng, Xa Bù Lơ, Bù Đek (Bù Chiêng Đêh), Bù Biêk. 23 Khơ Mú Kmụ, Kưm Mụ Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Măng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh 24 Bru-Vân Bru Bru, Vân Kiều Vân Kiều, Trì, Kiều Khùa, Ma Coong 25 Giáy Giáy Nhắng, Dẳng 13 26 Cơ tu Cơ Tu Ca Tu, Ka Tu 27 Gié-Triêng Gié, Triêng, Ve, Cà Tang, Giang Gié Bnoong Rẫy (Giẻ),Triêng,Ve, Bnoong (Mnoong) 28 Ta Ôi Tôi Ôi, Pa Cô, Tà Tà Ôi, Pa Cô, Pa Hi Uốt, Kan Tua, Pa Hi. 29 Mạ Mạ Châu Mạ, Chô Mạ, Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Chê Mạ Mạ Tô, Mạ Krung 30 Co Cor, Col Cua, Trầu 31 Chơ Ro Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng 32 Hà Nhì Hà Nhì Già U Ní, Xá U Ní Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Đen 33 Xinh Mun Xinh Mun Puộc, Xá, Pnạ Xinh Mun Dạ, Xinh Mun Nghẹt.
34 Chu-ru Chơ Ru, Kru, Thượng 35 Lào Thay, Thay Duồn, Phu Thay, Phu Lào Lào Bốc (Lào Cạn), Thay Nhuồn Lào Nọi (Lào Nhỏ) 36 La Chí Cù Tê Thổ Đen, Mán, Xá 37 Phù Lá Lao Va Xơ, Bồ Khô Xá Phó, Cần Thin Phù Lá Lão-Bồ Khô Pạ, Phù Lá Pạ, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán 38 La Hủ La Hủ Xá lá vàng, Cò La hủ na (đen), La- Xung, Khù Sung, hủ sư (vàng) và La- Kha Quy, Cọ Sọ, hủ phung (trắng) Nê Thú 39 Kháng Mơ Kháng Háng, Brển, Xá Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bủ Háng, Ma Háng Bén, Bủ Háng Cọi 40 Lự Lừ, Thay, Thay Lừ. Phù Lừ, Nhuồn, Lự Đen (Lự Đăm), Duồn Lự Trắng (ở Trung 14 Quốc) 41 Pà Thẻn Pà Hưng Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Đỏ, Bát tiên tộc. 42 Lô Lô Lô Lô Mùn Di, Di, Màn Lô Lô hoa, Lô Lô Di, La Ha, Qua La, đen Ô man, Lu Lộc Màn 43 Chứt Chứt Rục, Arem, Sách. Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng 44 Mảng Mảng Mảng Ư, Xá Mảng, Mảng Gứng, Mảng 45 Cờ lao Cờ Lao Tứ Đư, Ho Ki, Voa Cờ Lao Xanh, Cờ Đề.
Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ 46 Bố Y Bố Y Chủng Chá, Trọng Bố Y và Tu Dí Gia. 47 La Ha La Ha, Klá Plạo Xá Cha, Xá Bung, La Ha cạn (Khlá Xá Khao, Xá Táu Phlao), La Ha nước Nhạ, Xá Poọng, Xá (La Ha ủng) Uống, Bủ Hả, Pụa 48 Cống Xám Khống, Phuy A 49 Ngái Sán Ngải Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đản, Lê, Xuyến 50 Si La Cù Dề Sừ Kha Pẻ 51 Pu Péo Kabeo La Quả, Penti Lô Lô 52 Brâu Brao 53 Rơ Măm 54 Ơ Đu Ơ Đu, I Đu Tày Hạt 15 Chương 2: Văn hoá cộng đồng các tộc người ngữ hệ Nam Á Mục tiêu: Sau khi học xong chương này, người học có khả năng: - Trình bày được một số kiến thức cơ bản về nguồn gốc hình thành, địa bàn cư trú, điều kiện phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, các nét đặc trưng về văn hóa vật chất và tinh thần của các tộc người ngữ hệ Nam Á 1. Nguồn gốc và sự phân bố dân cư 1. Nhóm Môn - Khơme Các dân tộc thiểu số dù cư trú ở Việt Nam dù hàng nghìn năm hay mới vài ba trăm năm, dù đông hay ít người mỗi dân tộc đều gắn bó số phận mình với lịch sử dân tộc trong nước.
Các dân tộc đều cùng nhau tham gia và bảo vệ Tổ Quốc chung. Đặc biệt những thử thách sống còn của giặc ngoại xâm, thiên tai khắc nghiệt liên tiếp xảy ra làm cho các dân tộc xích lại gân nhau hơn.Họ đã phải dưạ vào nhau để trống trọi, để tồn tại và phát triển. Trải quá trính đó, các dân tộc đã chung đúc được một truyền thống đoàn kêt bền vững, hình thành nên một đại gia đình Việt Nam của các dân tộc anh em.Trong bức tranh đa dạng và phong phú ấy, văn hóa các dân tộc Việt Nam là những mảng màu đặc sắc và quý hiếm. Góp phần vào kho tàng văn hóa phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam phản kể đến nhóm các dân tộc thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme.
Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme hiên nay sống tập trung chủ yếu trên bán đảo Đông Dương và cũng có mặt ở tất cả các nước trong khu vực, đông nhất là ở Campuchia, Việt nam, Thái Lan và các nước khác như: Lào, Malayxia…. Nhóm cư dân Môn-Khơme có số dân không đông lắm, nhưng lại là nhóm cư dân có nhiều thành phấn dân tộc nhất Việt Nam, có 21 dân tộc là: Bana, Brâu, Bru- Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Gié-Triêng, Hrê, Kháng, Mảng, Mnông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, Xtiêng, Mạ, Khơme, Khơ Mú Về nguồn gốc cư dân Môn-Khơme có nhiều ý kiến khác nhau: Giả thiết được nhiều người tán thành nhất là của E.Aymonier công bố năm 1904 cho rằng; tổ tiên những người ngôn ngữ Môn-Khơme thuộc về chủng tộc Negritiod bắt nguồn từ những sườn núi nam Tây Tạng rồi chia đôi ra và di chuyển về phương Nam theo 2 hướng; hướng Tây Nam sinh ra người Mun du ở Ấn Độ, hướng Đông Nam sinh ra tộc người Môn-Khơme ở Đông Dương. Bruk nhà nhân chủng học Lien Xô cho rằng: từ thiên niên kỷ I TCN đại bộ phận Đông Dương đã có mặt người Môn-Khome từ phía Tây nam Trung Quốc tràn xuống. Các nhà nhân chủng học kết luận: thành phần nói ngôn ngữ Môn-Khơme đều là dân bản địa Đông Nam Á lâu đời.
Cội nguồn của họ từ những dạng chuyển tiếp từ Austro-Mongoloid đang trong quá trình phân hóa với những nét đăc trưng phương Nam từ đó sinh ra các loại Vediod và Indonesien của bán đảo Đông Dương cổ đại về sau phân bố rộng khắp Đông Nam Á. 16 Chính vì vậy các nhà khoa học đều cho rằng cư dân Môn-Khơme là cư dân bản địa, những người đầu tiên lập nghiệp trên bán đảo Đông Dương. Tổ tiên của họ là chủ nhân của những nhà nước cường thịnh trong vùng. Nhưng vào cuối TNKI và đầu TNKII SCN, các quốc gia cổ đại Môn-khome suy yếu dần và lần lượt tan rã, cư dân Môn – Khơ me phần bị tiêu diệt, phần bị đông hóa hoặc tự hòa nhập vào những cộng đồng cư dân khác, một phần bị phân hóa ra thành nhiều tộc người, những nhóm địa phương cư trú xen kẽ với các dân tộc khác.
Trong lịch sử cư trú, trên lãnh thổ Việt Nam, cư dân Môm-Khơme cũng có nhiều biến động về dân số, thành phần tộc người và lãnh thổ tộc người.