Chuong6 BENH G HE TIET NIEU 1. DAI CUONG Chức năng của thận là thải trừ các chất cặn bã trong quá trình trao đổi chất, các chất độc do các nhân tố gây bệnh hoặc nhiễm độc qua thức ăn, nước uống của cơ thể để duy trì thành phần của máu. Tham gia điều hoà huyết áp, tham gia tạo hồng cầu nhờ hormon erythropoietin kích thích tuỷ xương tạo hồng cầu. Trong nước tiểu chiếm tới 96% là nước còn 4% là vật chất khô.
Chất khô bao gồm sản phẩm của quá trình phân giải protit như ure, axit uric và những chất khoáng như muối của natri, kali, lưu huỳnh, photpho. Ngoài ra trong nước tiểu còn có những sắc tố như urobilin, bilirubin. Thận còn giữ chức năng cân bằng áp lực thẩm thấu trong tổ chức. Sự thành lập nước tiểu qua 2 giai đoạn đó là: hình thành nước tiểu đầu và tái hấp thu những chất cần thiết.
Sự hình thành nước tiểu đều phụ thuộc vào áp lực ở quản cầu. Bình thường thì huyết áp máu ở quản cầu là: 70mmHg. Độ lọc của màng lọc (độ cản trở nước đi qua) là 30mmHg. Áp lực của chất keo trong máu (cản trở nước lọc qua) là 5mmHg.
Áp lực bình thường là 35 mmHg. Ở bò trong 1 ngày nước tiểu đầu được tạo ra khoảng 600 - 2000 lít. Ống thận có nhiệm vụ hấp thu những chất cần thiết và thải trừ các chất độc. bao gồm hấp thu nước, glucoza, Na, K.
Đoạn ống xoắn hap thu 80% glucoza,75% nước và một ít ure. Quai Henle hấp thu nước và một ít Na. Ống lượn xa hấp thu nước và một ít Na, ngoài ra đoạn này còn có tác dụng điều chỉnh pH của hước tiểu. Ở người từ 5 - 8 phút toàn bộ máu qua thận một lần, muốn có được 1 lít nước tiểu thận phải lọc 90 lít nước tiểu đầu.
Nhờ có sự chênh lệch rất lớn áp lực giữa mạch quản vào và ra quản cầu malpighi nên khối lượng máu vào trong thận gấp 20 lần so với các nội tạng khác. Huyết tương không chứa protit sẽ thấm qua vách mạch quản ra ngoài thành nguyên niệu. Phần lớn nguyên liệu trong tiểu quản thận được tái hấp thu vào máu. Nước còn lại trở thành nước tiểu.
NHỮNG TRIỆU CHỨNG CHUNG KHI THẬN BỊ BỆNH 2. Albumin niệu Trong quá trình thận mắc bệnh, vách của mao quản thận bị thoái hoá, tính thẩm thấu tăng. Các phân tử lớn albumin thấm qua được quản cầu gây triệu chứng Albumin niệu bệnh lý. 178 Albumin niéu con có thể do các loại trụ niệu gây nên như trụ niệu hồng cầu, bạch cầu.
Albumin niệu có thể xuất hiện do hậu quả của viêm bàng quang, niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt, viêm âm đạo. được gọi là Albumin niệu giả. Huyết niệu Do thận bị xuất huyết hay do kế phát từ các bệnh truyền nhiễm, do viêm xuất huyết ở bàng quang, niệu đạo hay đường sinh dục. Phù thũng Thường xảy ra vào giai đoạn 2 của bệnh về thận, do các yếu tố sau: - Mất nhiều Albumin, từ đó làm áp lực keo trong máu giảm.
Môi trường máu trở thành nhiễm trùng. Nước từ máu vào kẽ gian bào gây phù. - Hiện tượng bí tiểu sẽ làm sự bài thải nước khó khăn đồng thời các ion Na, K không bài thải được. Tích tụ trong máu sau đó vào kẽ gian bào làm chênh lệch nồng độ ion giữa máu và tổ chức.
Nước từ máu đi vào kẽ tổ chức gây phù. Urê huyết Urê là sản phẩm của quá trình phân giải các axit amin không bài thải được, tích tụ trong máu. Hàm lượng urê tăng cao dần dẫn đến gia súc bị ngộ độc. Triệu chứng ngộ độc biểu biện là gia súc buồn ngủ, sau co giật hôn mê rồi chết.
Cao huyết áp Là triệu chứng thường thấy trong bệnh viêm thận cấp tính, suy thận. Trong các bệnh này do dịch viêm làm tăng áp lực ở nang Bowman. Áp lực lọc hạ thấp, các tế bào masculadensa ở quản cầu sẽ tiết ra kích thích tố renin chất này hoạt hoá một loại protein có trong máu là hypertensinogen thành hypertensin, chất này có tác dụng làm co các mao quản nên huyết áp cao. Suy thận Trong quá trình viêm, một số các tiểu cầu thận bị phá hoại, đo vậy cơ năng bài tiết của thận bị trở ngại.
Hậu quả của suy thận là làm mất khả năng duy trì độ pH của máu nên gia súc dễ bị trúng độc toan hoặc kiềm. Khả năng cô đặc niệu của thận giảm. NHỮNG BỆNH Ở HỆ TIẾT NIỆU 3. Viêm thận cấp tính (Nepriis acufa) Viêm thận cấp tính là viêm ở tiểu cầu thận, hoặc tổ chức kẽ của tiểu cầu thận.
Tiểu cầu thận bị dịch ri viêm thâm nhiễm. Bệnh gây ảnh hưởng đến quá trình siêu lọc của thận dẫn đến phù do tích nước, muối ở tổ chức gây nhiễm độc đối với cơ thể do các sản phẩm trong quá trình trao đổi chất không thải được ra ngoài. Nguyên nhân - Do vi trùng từ nơi khác đến thận gây viêm, ví dụ từ viêm nội tâm mạc, ngoại tâm mạc, viêm phổi. - Do gia súc bị cảm lạnh, bị bỏng.
- Do bị nhiễm độc bởi hoá chất, nấm mốc thức ăn, độc tố thực vật. - Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như dịch tả lợn, lợn đóng dấu, tụ huyết trùng. nhiệt thán, lở mồm long móng, bệnh ký sinh trùng đường máu. Do kế phát từ một số bệnh nội khoa như viêm dạ dày ruột, viêm gan, suy tim.
Cơ chế sinh bệnh Do những kích thích của nguyên nhân sẽ gây rối loạn thân kinh trung khu, làm ảnh hưởng tới cơ năng của thần kinh vận mạch, các mao quản toàn thân sinh ra co that, nhất là ở thận sẽ làm giảm tính thẩm thấu của mao quản thận, chất độc tích lại trong tiểu cầu gây nên viêm. Trong thận tiểu cầu khi bị viêm lớp tế bào nội bì bị sưng và tróc ra, tế bào bạch cầu thâm nhiễm, mao quản cầu thận co thắt sẽ làm cho lượng nước tiểu giảm, sinh ra urê huyết gây nên trúng độc. Do sự co thắt mạch quản, chất renin được sản sinh ra, hoạt hóa hypertensinogen trong huyết tương thành hypertensin làm cao huyết áp. Sự thải tiết nước tiểu bị trở ngại, muối NaCl tích lại trong tổ chức nên gây phù toàn thân.
Trong nước tiểu có albumin, tế bào thượng bì, hồng cầu, bạch cầu và các loại trụ niệu. — Nguyên nhân gây bệnh Thành mạch quản bị tổn Dịch viêm ép nang Bowman ———> Thận thiếu máu thương (Albumin niệu, hồng | | cầu, bạch cầu, trụ niệu) Giảm khả năng lọc Rénin Phù thũng \ Cao huyết áp Dãn tâm thất trái 3. Triệu chứng Bệnh ít khi ở thể nguyên phát, thường là kế phát từ các bệnh khác, khi mắc bệnh con vật thường có các triệu chứng sau: - Gia súc sốt cao và đau ở vùng thận làm cho con vật đi lại khó khăn, lưng cong, khi sờ vào vùng thận con vật có phản ứng đau. - Con vật đi tiểu nhiều ở thời kỳ đầu, giai đoạn sau ít, nước giải đục, có khi có máu, toàn thân bị ức chế, bỏ ăn.
Bệnh kéo dài gây hiện tượng phù toàn thân (các 180 ving phù dé thay là ngực, yếm, bụng, chân, âm hộ va mí mắt), có hiện tượng tràn dịch ở màng phổi, xoang bụng, xoang tim. - Xét nghiệm nước tiểu có protein niệu, huyết niệu, trụ niệu và tế bào biểu mô tiểu cầu thận. - Hàm lượng urê tăng cao trong máu gây nhiễm độc, làm cho con vật bị hôn mê, co giật, nôn mửa, ia chảy. Trong máu, số lượng bạch cầu tăng, tỷ lệ bạch cầu trung tính tăng (nhất là tỷ lệ bạch cầu non).
Bệnh tích Thận bị sưng, mặt thận sung huyết hoặc lấm tấm sung huyết, màng ngoài thận dễ bóc, trong mao quản của tiểu cầu thận có protit đông đặc, bạch cầu và ít hồng cầu. Hệ thống nội bì sưng làm cho tiểu cầu thận phình to, tế bào thượng bị của tiểu quản thận bị thoái hoá hạt và thoái hoá mỡ. Trong nước tiểu có trụ niệu, trụ hạt, trụ hồng cầu, trụ mỡ. Chẩn đoán Phải nắm được đặc điểm của bệnh là phù, huyết áp cao, giãn tim, thiểu niệu, albumin niệu, urê huyết, có các loại trụ niệu trong nước tiểu, vùng thận đau hay kế phát viêm phổi, viêm ruột.
Điều trị Hộ lý: Cho gia súc nghỉ ngơi, tránh cho vật ăn nhiều muối, hạn chế cho uống nước. Dùng thuốc điều trị - Dùng kháng sinh để tiêu viêm, diệt khuẩn + Penicillin: 2 -3 triệu đơn vị/ngày (đại gia súc), tiêm bắp ngày 2 lần, liên tục trong 3 - 5 ngày. + Gentamycin 5 - 10 mg/kg tiêm bắp ngày 1 lần, liên tục trong 3 - 5 ngày. + Lincomycin 10 - 15 mg/kg tiêm bắp ngày 1 lần.
+ Ding Penicillin + Novocain (0,25%) tiém tinh mach. Có thể dùng Tetracyclin, Byomycin, Tetamycin 0,02 - 0,05g/kg. - Dùng các thuốc lợi niệu: Glucoza 20 - 40% tiêm tĩnh mạch Cafein 2 - 3 g tiêm dưới da. Dùng thuốc sát trùng đường niệu: Urotropin 20% 50 - 100ml, tiêm tinh mach cho đại gia súc.
Ngoài ra có thể cho uống nước râu ngô, bông mã đề hoặc nước cỏ tranh. - Đề phòng hiện tượng thận nhiễm mỡ, hoặc thoái hoá dùng Prednisolon 200 - 300 mg/con (đại gia súc). Cho uống hoặc tiêm dưới da. Bénh than cap tinh va man tinh (Nephrosis acuta et chromica) 3.
Dac diém Bệnh thận là một bệnh của toàn thân, là sự tiếp diễn của quá trình rối loạn trao đổi chất (rối loạn trao đổi protit, lipit, chất khoáng và nước), từ đó gây nên sự thoái hoá ở mô bào tiểu quản thận và làm rối loạn cơ năng của thận. Bệnh xảy ra do sự tổn thương ở hệ thống tiểu quản thận bao gồm: ống lượn gần, quai Henle, ống lượn xa. Bệnh gây trở ngại rất lớn đến quá trình tái hấp thu các chất trong nước tiểu. Nguyên nhân - Do hậu quả của các chứng trúng độc của các hoá chất độc, nấm mốc độc.
hoặc các chất độc của cơ thể sản sinh ra do rối loạn trao đổi chất. Các chứng Acetonuria, bệnh gan, chứng Diabete (tiểu đường), khi gia súc bị bỏng. có thể dẫn đến bệnh thận. - Do các bệnh truyền nhiễm cấp tính và mãn tính gây nên như bệnh lao, cúm, đóng dấu lợn, viêm phế mạc truyền nhiễm ở ngựa, bệnh thiếu máu truyền nhiễm.
Cơ chế sinh bệnh Người ta cho rằng, bệnh thận không phải bắt nguồn đầu tiên ở thận mà là bệnh của toàn thân, dẫn đến rối loạn về tính chất lý hoá của thể keo trong tổ chức; sự rối loạn đó là biểu hiện về trở ngại trao đổi chất (trao đổi protit, lipit, nước, muối clorua natri). Một số sản phẩm phân giải ở trạng thái tự do nó thâm nhiễm vào tổ chức rồi vào máu theo nước tiểu ra ngoài thành albumin niệu, lipit niệu.