TRƯỜNG CAO KINH TẾ - KỸ THUẬT VINATEX TP.HCM GIÁO TRÌNH AN TOÀN CÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG (Lưu hành nội bộ) Thành Phố Hồ Chí Minh – 2017 1 BAØI 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG I- Muïc ñích, YÙ nghóa và tính chất của công tác bảo hộ lao động 1.Khái niệm Lao động là hoạt động quan trọng của con người, nó tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần của xã hội. lao động có năng xuất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội gia đình và bản thân mỗi người lao động.bát cứ một chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất Trong quá trình lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, con người luôn luôn phải tiếp xúc với máy móc, trang thiết bị, công cụ và môi trường.đây là một quá trình phong phú, đa dạng và rất phức tạp, vì vây luôn phát sinh những nguy hiểm và rủi ro. làm cho người lao động có thể bị tai nạn hoặc mắc bệnh nghề nghiệp, vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để hạn chế tai nạn tới mức thấp nhất. một trong những biện pháp tích cực nhất đó là giáo dục ý thức bảo hộ lao động cho mọi người và làm cho mọi người hiểu được mục đích ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động.
Mục đích của công tác Bảo hộ lao động Một quá trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại. nếu không có phòng ngừa ngăn chặn chúng có thể tác động vào con người gây chấn thương, gây bệnh nghề nghiệp làm giảm sút, làm mất khả năng lao động hoặc gây tử vong. Cho nên việc chăm lo cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác bảo hộ lao động, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình lao động nhằm mục đích: -Đảm bảo an toàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất, hoặc không để xảy ra tai nạn trong lao động.
- Đảm bảo cho người lao động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động không tốt gây nên. - Bồi dưỡng phục hồi và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho người lao động. Coù nhaän thöùc ñuùng nhö vaäy thì môùi ñaët nhieäm vuï BHLÑ ñuùng vò trí, ñuùng taàm quan troïng cuûa noù, môùi ñaûm baûo cho söï phaùt trieån ñoàng boä cuûa coâng taùc BHLÑ trong söï phaùt trieån kinh teá xaõ hoäi cuûa ñaát nöôùc 3. Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động a.
Ý nghĩa chính trị Bảo hộ lao động thể hiện quan điểm coi người lao động vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển.Một đất nước có tỷ lệ tai nạn lao động thấp, con người lao động khỏe mạnh, không mắc bệnh nghề nghiệp là một xã hội luôn coi con người là vốn quý nhất, sức lao động, lực lượng lao động luôn luôn được bảo vệ và phát triển. công tác bảo hộ lao động làm tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe, tính mạng và đời sống của người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng con người của Đảng và Nhà nước ta, vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng. Ý nghĩa xã hội Bảo hộ lao động là chăm lo đời sống hạnh phúc của người lao động. Bảo hộ lao động là yêu cầu thiết thực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động.
Ý nghĩa kinh tế Thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt. trong lao động sản xuất nếu người lao động được bảo vệ tốt, điều kiện lao động thoải mái, thì sẽ an tâm, phấn khởi sản xuất, phấn đấu để có ngày công giờ công cao, phấn đấu tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, góp hần hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất. do vậy phúc lợi tập thể được tăng lên, có thêm điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân người lao động và tập 2 thể lao động.Khi tai nạn không xảy ra thì Nhà nước và xã hội sẽ giảm bớt được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả tập trung đầu tư cho các công trình phúc lợi xã hội. II- Tính chaát 1.
Tính pháp luật: Công tác BHLĐ là một pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở để bảo vệ tốt nhất cho người lao động sản xuất. Người nào vi phạm các luật định về công tác BHLĐ thì tùy theo mức độ nặng nhẹ đều phải chịu xét xử trước pháp luật 2. Tính khoa học kỹ thuật: Áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và lao động sản xuất để cải tiến lao động và luôn luôn được cải tiến trong lao động sản xuất nhằm làm nhẹ cường độ cho lao động, đảm bảo an toàn cho người lao động sản xuất, đồng thời thúc đẩy năng suất lao động phát triển tiến bộ hơn. Tính quần chúng: Công tác BHLĐ liên quan đến tất cả mọi người, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người lao động.
Từ đó mọi người lao động hưởng ứng, đồng thời trong lao động họ cũng phát hiện ra những thiếu sót trong công tác BHLĐ để đóng góp ý kiếm, đề ra biện pháp an toàn trong lao động sản xuất được hoàn thiện hơn. Nội dung bảo hộ lao động 1. Kỹ thuật an toàn Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động. để đạt được mục đích phòng ngừa tác động của các yếu tố nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động, trong quá trình hoạt động sản xuất phải thực hiện đồng bộ các biện pháp về tổ chức, kỹ thuật, sử dụng các thiết bị an toàn và các thao tác làm việc an toàn thích ứng.
tất cả các biên pháp đó được qui định cụ thể trong các quy phạm, tiêu chuẩn, các văn bản khác về lĩnh vực an toàn. Nội dung kỹ thuật an toàn chủ yếu gồm các vấn đề sau: -Xác định vùng nguy hiểm -Xác định các biện pháp về quản lý tổ chức và thao tác làm việc đảm bảo an toàn; - Sử dụng các thiết bị an toàn thích ứng: thiết bị che chắn, thiết bị phòng ngừa, thiết bị bảo hiểm, tín hiệu, biển báo, trang bị bảo hộ cá nhân. Vệ sinh lao động Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với người lao động. Để ngăn ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trước hết phải nghiên cứu sự phát sinh và tác động của các yếu tố có hại đối với cơ thể con người, trên cơ sở đó xác định tiêu chuẩn giới hạn cho phép của các yếu tố trong môi trường lao động, xây dựng các biện pháp vệ sinh lao động.
Nội dung của vệ sinh lao động gồm: - Xác định khoảng cách về vệ sinh; - Xác định các yếu tố có hại cho sức khỏe - Giáo dục ý thức và kiến thức vệ sinh lao động, theo dõi quản lý sức khỏe; - Biện pháp vệ sinh học, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường; - Các biện pháp kỹ thuật vệ sinh: kỹ thuật thông gió, thoát nhiệt, kỹ thuật chống bụi, chống ồn, chống rung động, kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật chống bức xạ, phóng xạ, điện từ trường… - Trong quá trình sản xuất phải thường xuyên theo dõi sự phát sinh các yếu tố có hại, thực hiện các biện pháp bổ sung làm giảm các yếu tố có hại, đảm bảo tiêu chẩun vệ sinh cho phép. Chính sách, chế độ bảo hộ lao động các chính sách chế độ bảo hộ lao động chủ yếu bao gồm: các biện pháp kinh tế xã hội, tổ chức quản lý và cơ chế quản lý công tác bảo hộ lao động. Các chính sách, chế độ báo hộ lao động nhằm bảo đảm thúc đẩy việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật an toàn, biện pháp về vệ sinh lao động như chế độ trách nhiệm của cán bộ quản lý, của tổ chức bộ máy làm công tác bảo hộ lao động, các chế động về tuyên truyền huấn luyện, chế độ thanh tra kiểm tra, chế độ khai báo điều tra, thống kê, báo cáo về tai nạn lao động… 3 Hiểu được nội dung của công tác bảo hộ lao động sẽ giúp cho người quản lý đề cao trách nhiệm và có biện pháp tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động đạt kết quả tốt nhất. Hệ thống pháp luật lao động và những qui định về bảo hộ lao động 1.
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 10) Điều 56 của hiến pháp quy định chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước qui định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động. Các điều 39,61,63 quy định các nội dung khác về bảo hộ lao động. Bộ luật lao động và các luật khác, pháp lệnh có liên quan tới an tòan vê sinh lao động.
Bộ luật lao động của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực từ 01/1/1995 quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quảm lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất. Một số luật có liên qua đến an toàn vệ sinh lao động a. Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, ban hành năm 1989 Quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động phải chăm lo, bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho người lao động. phải tạo điều kiện cho người lao động được điều dưỡng nghỉ ngơi, phục hồi chức năng lao động; Nghiêm cấm làm ô nhiễm các nguồn nước sinh hoạt, tránh làm ô nhiễm đất, nước và không khí.