Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn: Phần này tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về thực trạng sử dụng ĐTTM và những ảnh hưởng của nó; phân tích các lý thuyết áp dụng; các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, cùng mô hình khung phân tích, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. - Chương 2: Thực trạng giao tiếp trong gia đình đô thị hiện nay: Phân tích thực trạng giao tiếp giữa CM-CC trong gia đình đô thị hiện nay về các nội dung giáo dục, tình cảm và nghỉ ngơi, giải trí. Xem xét mức độ và những cách thức giao tiếp. - Chương 3: Thực trạng sử dụng và ảnh hưởng của ĐTTM đến giao tiếp của gia đình đô thị: Phân tích thời gian sử dụng, các ứng dụng thường dùng và mục đích sử dụng ĐTTM; phân tích ảnh hưởng của ĐTTM đến giao tiếp giữa CM-CC khi trao đổi về nội dung giáo dục, chia sẻ tình cảm và thảo luận về việc nghỉ ngơi, giải trí chung.
9 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận: Luận văn sử dụng các lý thuyết xã hội học gia đình, lý thuyết về truyền thông (quyết định luận kỹ thuật) và lý thuyết lối sống đô thị như là cơ sở lý luận trong phân tích nội dung nghiên cứu về giao tiếp trong gia đình đô thị dưới ảnh hưởng của ĐTTM (smartphone) bao gồm việc phân tích thực trạng giao tiếp trong gia đình đô thị hiện nay, thực trạng sử dụng ĐTTM và ảnh hưởng của ĐTTM tới giao tiếp trong gia đình đô thị. - Lý thuyết Xã hội học gia đình Gia đình hiện đại chỉ còn lại hai chức năng là chức năng sinh con đẻ cái để nói dõi và chức năng gắn bó với nhau về tình cảm trong số 7 chức năng của thời kỳ tiền công nghiệp (nhà xã hội Mỹ William F. Chức năng gắn bó với nhau về tình cảm là đảm bảo sự cân bằng tâm lý, thoả mãn nhu cầu tình cảm cho các thành viên gia đình, giúp thành viên gia đình luôn có sự cân bằng về tâm lý, tình cảm, nhằm củng cố độ bền vững của hôn nhân và gia đình, sự ổn định của xã hội [32, tr.
Đề tài xem xét mức độ thoả mãn tình cảm của các thành viên trong gia đình đô thị hiện nay. Đặc biệt là khi có sự xuất hiện của ĐTTM thì chức năng này được thực hiện như thế nào. - Lý thuyết về truyền thông Lý thuyết quyết định luận kỹ thuật: Kỹ thuật là sự nối dài của các giác quan và hệ thống thần kinh của con người, vì thế những thay đổi về kỹ thuật có thể dẫn tới những cách thức tri giác và nhận thức mới (McLuhan) [26, tr. Trong phạm vi đề tài, ĐTTM chính là phương tiện hữu hiệu “nối dài các giác quan” cho các thành viên trong gia đình (CM-CC) để có thể trao đổi với nhau khi không thể gặp mặt trực tiếp.
Những chia sẻ thông qua internet cũng làm cho các thành viên trong gia đình có thể thay đổi cách tiếp nhận thông tin so với giao tiếp trực tiếp. 10 - Lý thuyết Lối sống Đô thị Đô thị như một lối sống (Louis Wirth): Các khuôn mẫu của văn hoá và cấu trúc xã hội, đặc trưng của các đô thị là khác căn bản với văn hoá của các cộng đồng nông thôn. Trong khi nông thôn còn thường xuyên hỏi thăm nhau, làng xóm xem nhau như họ hàng thì ở đô thị người dân sống tách biệt kiểu “đèn nhà ai nấy sáng”. Người dân đô thị dễ dàng tiếp cận cái mới và tạo ra những phương thức sản xuất cũng như nếp sống mới mà ở nông thôn chưa từng có [19, tr.
Một trong những cái mới mà người dân đô thị tiếp nhận chính là sử dụng smartphone và xem nó như vật “bất khả ly thân” để hỗ trợ người sở hữu trong công việc, học tập cũng như giải trí và giao tiếp với bạn bè, người thân. Các khái niệm then chốt - Giao tiếp: hay còn gọi là truyền thông, là quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người. Một trong những các phân loại giao tiếp là giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp (qua trung gian người khác hoặc qua một phương tiện kỹ thuật nào đó)[26, tr. Trong phạm vi đề tài, khi nói đến giao tiếp gián tiếp nghĩa là giao tiếp thông qua ĐTTM.
- Gia đình đô thị: Gia đình: là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chề văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục … giữa các thành viên. Đô thị: là điểm dân cư có tối thiểu 40.000 người trở lên, trong đó ít nhất ít nhất 60% dân cư không làm nông nghiệp. Gia đình đô thị trong phạm vi đề tài bao gồm các thành viên là cha mẹ, con cái sống ở khu vực đô thị - ĐTTM: hay tiếng Anh gọi là Smartphone, một thiết bị kết hợp giữa điện thoại di động và các tính năng của một thiết bị hỗ trợ cá nhân kỹ thuật số (PDA). Tức là với một chiếc điện thoại bạn vừa có thể nghe, gọi, nhắn tin 11 đồng thời bạn có thể truy cập mạng, gửi e-mail, chỉnh sửa các tài liệu office, chơi game, … 1.
Câu hỏi nghiên cứu: 1. Thực trạng giao tiếp giữa cha mẹ - con cái trong gia đình đô thị hiện nay là như thế nào? (loại hình, cường độ và tính chất của giao tiếp) 2. Thực trạng sử dụng ĐTTM trong gia đình đô thị hiện nay là gì? (mức độ sử dụng, cường độ và tính chất) 3. Có những ảnh hưởng nào (tích cực và tiêu cực) từ việc sử dụng ĐTTM tới hoạt động giao tiếp trong gia đình đô thị hiện nay? 1.
Giả thuyết nghiên cứu: - Mối quan hệ giữa CM-CC dưới ảnh hưởng của việc sử dụng ĐTTM bao gồm cả 2 mặt tích cực và tiêu cực; ảnh hưởng tích cực nhiều hơn. - Giao tiếp giữa CM-CC ngày càng ít trực tiếp hơn do sử dụng ĐTTM. Hình thức giao tiếp gián tiếp thông qua ĐTTM chiếm thời gian lớn trong giao tiếp giữa CM-CC. Khung phân tích: ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH Nhóm tuổi - Tỷ lệ sử dụng - Chức năng thường dùng - Thời gian sử dụng Giới tính GIAO TIẾP TRONG GIA ĐÌNH Tích cực Tiêu cực QUAN HỆ CHA MẸ - CON CÁI Giáo Tình Nghỉ dục Cảm ngơi Giải trí 13 1.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu Việc nghiên cứu lựa chọn và phân bổ số lượng khách thể là học sinh và phụ huynh. Cuộc khảo sát được thực hiện với dung lượng mẫu là 182. Giới tính là một trong những biến quan trọng mà đề tài quan tâm để phân tích. Tuy nhiên, vì chọn mẫu theo chủ đích nên không thể chọn 30 học sinh nam và 30 học sinh nữ mà chỉ chọn được 30 học sinh THCS (tỷ lệ 50%) và 30 học sinh THPT (tỷ lệ 50%), kết quả thì có 18 học sinh nam (tỷ lệ 30%) và 42 học sinh nữ (tỷ lệ 70%) tham gia trả lời câu hỏi phỏng vấn.1: Trình độ học vấn của học sinh Học vấn N % THSC 30 50 THPT 30 50 Tổng 60 100 Bảng 1.2: Giới tính của học sinh Giới tính N % Nam 18 30 Nữ 42 70 Tổng 60 100 Tổng số mẫu cha mẹ học sinh tham gia trả lời phỏng vấn là 122 người.
Trong đó có 61 là nữ (tỷ lệ 50%), 61 là nam (tỷ lệ 50%). Về nghề nghiệp thì có 46% phụ huynh làm cán bộ - viên chức, 30% phụ huynh làm công nhân, 20% phụ huynh là nghề tự do, kinh doanh, dịch vụ, 3% làm nội trợ, 2% phụ huynh đã về hưu.3: Nghề nghiệp của phụ huynh 46% 30% 20% 2% 3% Tự do, buôn Công nhân Viên chức Về hưu Nội trợ bán, dịch vụ Về trình độ học vấn thì có 46% phụ huynh đạt trình độ cao đẳng, đại học, 31% phụ huynh có trình độ THPT và 23% phụ huynh có trình độ THCS.4: Trình độ học vấn của phụ huynh THCS 23% CĐ,ĐH 46% THPT 31% 1. Cơ sở thực tiễn 1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Thành phố Thủ Dầu Một là thành phố trực thuộc tỉnh Bình Dương, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí tương đối thuận lợi cho việc giao lưu với các huyện, thị trong tỉnh và cả nước qua quốc lộ 13, cách Thành phố Hồ Chí Minh 30km.
Ngày 2 tháng 5 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP thành lập thành phố Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương, trên cơ sở toàn bộ diện 15 tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một đồng thời chính thức hoạt động vào ngày 1 tháng 7 năm 2012. Hiện Thủ Dầu Một đang là đô thị loại II. Theo quy hoạch, đến năm 2020, Thủ Dầu Một sẽ là đô thị loại 1 thuộc thành phố Bình Dương. Thành phố có diện tích tự nhiên 118,67 km² và 271.
Thành phố không có các xã ngoại thành mà tất cả 14 phường: Chánh Mỹ, Chánh Nghĩa, Định Hòa, Hiệp An, Hiệp Thành, Hòa Phú, Phú Cường, Phú Hòa, Phú Lợi, Phú Mỹ, Phú Tân, Phú Thọ,Tân An, Tương Bình Hiệp. Phú Lợi là phường trung tâm của Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, có 09 khu phố, 89 tổ, 7.161 hộ (Số liệu đến ngày 01/10/2015), mang những đặc trưng của thành phố Thủ Dầu Một về văn hóa – kinh tế - xã hội tiêu biểu của Thủ Dầu Một nên tác giả đã chọn địa bàn này để nghiên cứu trong phạm vi một luận văn.5: Số hộ dân trong từng khu phố của phƣờng Phú Lợi Stt Khu phố Số hộ Stt Khu phố Số hộ 1 1 359 6 6 907 2 2 1,285 7 7 1,327 3 3 1,681 8 8 422 4 4 685 9 9 479 5 5 826 Tổng cộng 4,836 Vị trí của phƣờng Phú Lợi trong thành phố Thủ Dầu Một 16 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIAO TIẾP TRONG GIA ĐÌNH ĐÔ THỊ HIỆN NAY Trong các gia đình đô thị, quan hệ giữa các thành viên gia đình mang nhiều đặc trưng theo từng nhóm tuổi trongnhững điều kiện sống ở đô thị. Trong giao tiếp giữa CM-CC, theo chu trình sống của gia đình, nhóm tuổi vị thành niên, “tuổi teen” hay nhóm tuổi 12-18 có những đặc điểm tâm sinh lý đặc thù. Đây là độ tuổi mà bước đầu hình thành hình thành nhân cách với những giá trị, chuẩn mực được thiết lập trong mối quan hệ với những người xung quanh, trước hết là những người trong gia đình.