Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh DTTS tại Ba Bể, Bắc Kạn

Quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số tại các trường THCS huyện Ba Bể, Bắc Kạn. Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục công dân.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

3.2. Đối tượng nghiên cứu

4. Giả thuyết nghiên cứu

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.3. Phương pháp xử lý số liệu

8. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Ở nước ngoài

1.1.2. Ở trong nước

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

3. Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Giáo Dục Ý Thức Công Dân Cho Học Sinh Dân Tộc

Giáo dục ý thức công dân (YTCD) đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nhân cách, đặc biệt quan trọng đối với học sinh dân tộc thiểu số (DTTS). Nó không chỉ trang bị kiến thức pháp luật, đạo đức mà còn giúp các em hòa nhập, phát triển trong xã hội hiện đại. Theo GS. Trần Quốc Thành, quản lý giáo dục là quá trình sử dụng tối ưu các nguồn lực để đạt được mục tiêu của tổ chức. Bài viết này sẽ đi sâu vào thực trạng, thách thức và giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục YTCD cho học sinh DTTS, đặc biệt tại các trường THCS vùng cao.

1.1. Vai trò của giáo dục ý thức công dân cho học sinh DTTS

Giáo dục YTCD cho học sinh DTTS không chỉ là việc truyền đạt kiến thức pháp luật và đạo đức mà còn là quá trình bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập, giúp các em giữ gìn bản sắc văn hóa, đồng thời có đủ năng lực để tham gia vào sự phát triển của đất nước. Giáo dục kỹ năng sống cũng là một phần quan trọng giúp học sinh DTTS tự tin hơn trong cuộc sống.

1.2. Khái niệm ý thức công dân và các biểu hiện cơ bản

Ý thức công dân thể hiện qua hành vi, thái độ, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cộng đồng, xã hội. Đối với học sinh, YTCD được biểu hiện qua việc tuân thủ nội quy trường lớp, tôn trọng thầy cô, bạn bè, giữ gìn vệ sinh môi trường, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. Nâng cao YTCD giúp học sinh hình thành những phẩm chất tốt đẹp, trở thành công dân có ích cho xã hội.

1.3. Giáo dục truyền thống văn hóa cho học sinh dân tộc

Việc giáo dục truyền thống văn hóa cho học sinh dân tộc là vô cùng quan trọng, giúp các em hiểu về cội nguồn, bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này không chỉ giúp các em tự hào về dân tộc mình mà còn có ý thức bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các em sẽ được tiếp xúc, học hỏi và trân trọng những di sản văn hóa của dân tộc.

II. Thách Thức Giáo Dục Ý Thức Công Dân Học Sinh Vùng Cao

Giáo dục YTCD cho học sinh DTTS đối mặt với nhiều thách thức. Trình độ dân trí thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu gây cản trở lớn đến quá trình hình thành và phát triển YTCD. Ngoài ra, sự thiếu quan tâm từ gia đình, cộng đồng cũng ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả giáo dục. Việc thiếu cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm cũng là một vấn đề cần giải quyết.

2.1. Rào cản về ngôn ngữ và văn hóa trong giáo dục pháp luật

Rào cản ngôn ngữ là một trong những thách thức lớn nhất trong giáo dục pháp luật cho học sinh DTTS. Việc sử dụng tiếng Việt chưa thành thạo gây khó khăn cho các em trong việc tiếp thu kiến thức pháp luật, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Sự khác biệt về văn hóa cũng tạo ra những rào cản nhất định, đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp giảng dạy phù hợp, tôn trọng văn hóa địa phương.

2.2. Ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu đến nhận thức

Phong tục tập quán lạc hậu như tảo hôn, thách cưới, trọng nam khinh nữ... có ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi của học sinh DTTS. Những hủ tục này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn cản trở sự phát triển của cá nhân và cộng đồng. Cần có những giải pháp tuyên truyền, vận động để thay đổi nhận thức, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu.

2.3. Thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất giáo dục vùng sâu vùng xa

Thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất là một vấn đề nan giải ở các trường vùng sâu vùng xa, nơi có đông học sinh DTTS. Việc thiếu giáo viên có kinh nghiệm, trang thiết bị dạy học, phòng học... ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Cần có những chính sách ưu tiên đầu tư cho giáo dục vùng sâu vùng xa để đảm bảo quyền lợi học tập của học sinh DTTS.

III. Giải Pháp Nâng Cao Ý Thức Công Dân Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số

Để nâng cao hiệu quả giáo dục YTCD cho học sinh DTTS, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía. Tăng cường giáo dục pháp luật, đạo đức, kỹ năng sống thông qua các môn học chính khóa, hoạt động ngoại khóa. Nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục. Đặc biệt, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, cộng đồng để tạo môi trường giáo dục lành mạnh, hiệu quả.

3.1. Tăng cường giáo dục pháp luật và đạo đức trong nhà trường

Tăng cường giáo dục pháp luật và đạo đức trong nhà trường là một giải pháp quan trọng. Nội dung giáo dục cần được xây dựng phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh DTTS, sử dụng phương pháp giảng dạy trực quan, sinh động. Ngoài ra, cần tăng cường các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ pháp luật để học sinh có cơ hội thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tế.

3.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy và tiếp cận học sinh DTTS

Đổi mới phương pháp giảng dạy là một yêu cầu cấp thiết. Giáo viên cần sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Cần tạo môi trường học tập thân thiện, gần gũi, tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ của học sinh DTTS.

3.3. Phát triển giáo dục song ngữ cho học sinh dân tộc thiểu số

Phát triển giáo dục song ngữ là một giải pháp hiệu quả giúp học sinh DTTS tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng hơn. Giáo viên cần sử dụng cả tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ để giảng dạy, giúp học sinh hiểu rõ nội dung bài học. Ngoài ra, cần biên soạn tài liệu học tập song ngữ, phù hợp với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của từng dân tộc.

IV. Ứng Dụng Giáo Dục Ý Thức Công Dân Trong Thực Tiễn

Việc ứng dụng giáo dục YTCD trong thực tiễn cần được thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, diễn đàn để học sinh có cơ hội thể hiện ý kiến, bày tỏ quan điểm. Xây dựng các mô hình giáo dục YTCD phù hợp với từng địa phương, từng trường học. Đồng thời, cần có sự đánh giá, kiểm tra định kỳ để đảm bảo hiệu quả của quá trình giáo dục.

4.1. Xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh và thân thiện

Môi trường văn hóa học đường có vai trò quan trọng trong việc hình thành YTCD cho học sinh. Cần xây dựng môi trường học tập thân thiện, tôn trọng, hợp tác, nơi học sinh được tự do bày tỏ ý kiến, phát triển năng lực cá nhân. Ngoài ra, cần tăng cường các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao để tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích cho học sinh.

4.2. Phát huy vai trò của Đoàn Đội trong giáo dục ý thức công dân

Đoàn Đội là lực lượng nòng cốt trong việc giáo dục YTCD cho học sinh. Cần phát huy vai trò của Đoàn Đội trong việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, diễn đàn, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích cho học sinh. Ngoài ra, Đoàn Đội cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường, gia đình, cộng đồng để tạo môi trường giáo dục thống nhất.

4.3. Các mô hình giáo dục đạo đức và lối sống tiêu biểu cho học sinh

Có nhiều mô hình giáo dục đạo đức và lối sống tiêu biểu có thể áp dụng cho học sinh DTTS. Ví dụ như mô hình "Học sinh tự quản", mô hình "Gia đình cùng tham gia giáo dục", mô hình "Nhà trường kết nối cộng đồng"... Cần lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, từng trường học để đạt hiệu quả cao nhất.

V. Kết Luận Và Tương Lai Giáo Dục Ý Thức Công Dân Vùng Cao

Giáo dục YTCD cho học sinh DTTS là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Với những giải pháp đồng bộ, hiệu quả, chúng ta có thể tạo ra một thế hệ công dân có ý thức, trách nhiệm, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới phương pháp giáo dục, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

5.1. Tổng kết những thành tựu và hạn chế trong công tác giáo dục

Công tác giáo dục YTCD cho học sinh DTTS đã đạt được những thành tựu đáng kể, như nâng cao nhận thức về pháp luật, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, như thiếu nguồn lực, cơ sở vật chất, phương pháp giáo dục chưa phù hợp... Cần khắc phục những hạn chế này để nâng cao hiệu quả giáo dục.

5.2. Đề xuất các hướng nghiên cứu và phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần tập trung nghiên cứu các vấn đề như: xây dựng chương trình giáo dục YTCD phù hợp với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của học sinh DTTS; đổi mới phương pháp giảng dạy; phát triển đội ngũ giáo viên; tăng cường sự tham gia của gia đình, cộng đồng vào quá trình giáo dục... Những nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục YTCD cho học sinh DTTS.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trên thế giới thuật ngữ “Nếp sống”, “Ý thức” đã được nêu ra và nghiên cứu từ cuối thế kỉ 19. Vào những năm 70 - 80 của thế kỉ XX việc nghiên cứu nếp sống, ý thức ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu phát triển khá mạnh mẽ.

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau: “Bàn về khái niệm ý thức” [7]; “Ý thức Xô Viết hôm nay và ngày mai” [20]; “Ý thức xã hội chủ nghĩa” [32]; “Ý thức xã hội chủ nghĩa” [38]. Hầu hết các tác phẩm trên đều khẳng định cơ sở của giáo dục ý thức công dân xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa và luôn dựa trên cơ sở của tính tập thể, tính giai cấp, đối lập với ý thức, nếp sống tư bản chủ nghĩa chạy theo đồng tiền, lối sống thực dụng. Trong những thập kỉ gần đây vấn đề lối sống, nếp sống, ý thức công dân của học sinh, sinh viên cũng được nghiên cứu nhiều. Trong cuốn “The student revolution Aglobananalysis” xuất bản năm 1970 tại Ấn Độ đã đề cập đến vấn đề của sinh viên thế giới: thái độ đối với những sự kiện chính trị, đảng phái, chính sách của Chính phủ: sự tham gia của các sinh viên trong phong trào chính trị - xã hội ở các nước; các tổ chức xã hội và đoàn thể của sinh viên… Nhưng vấn đề ý thức công dân cũng chỉ được xem xét và mô tả một cách rời rạc, chưa khai thác được khía cạnh văn hóa trong một chỉnh thể nếp sống, ý thức.

Ở trong nước Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu lối sống, nếp sống, ý thức công dân đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều công trình nghiên cứu công phu như công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trình “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính (1875-1921). Trong tác phẩm này hầu hết những phong tục xã hội, phong tục trong gia tộc, thói quen, nếp sống, ý thức của con người Việt Nam kể từ xưa đến đầu thế kỷ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, thói quen tốt của con người Việt Nam, đồng thời mạnh dạn phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong các phong tục, thói quen, nếp sống… không phù hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc. Tư tưởng tiến bộ của Phan Kế Bính đã được Đảng ta quán triệt trong các nghị quyết nhằm xây dựng ở Việt Nam một nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại cũng đã nhấn mạnh việc xây dựng “Đời sống mới” (sau này đổi thành nếp sống mới), cách làm việc mới, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ lòng nhân ái, kính già, yêu trẻ, có lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu Tổ quốc.

Trong lúc nước nhà chưa thống nhất, việc “xóa bỏ, cải tạo nếp sống cũ lạc hậu và xây dựng nếp sống mới là nhiệm vụ to lớn và phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành, như Hồ Chủ tịch nói: “Một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [28, tr. Trong thời gian gần đây việc nghiên cứu lối sống, nếp sống nói chung và ý thức công dân cho HS dân tộc thiểu số nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm và một số công trình, luận án đã đi sâu vào những vấn đề cụ thể như: Lê Vân Anh (Chủ biên) - Lưu Thu Thủy - Trịnh Thị Anh Hoa (2013) [1]; Đặng Quốc Bảo (1997) [4]; Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004) [5]; Nguyễn Trần Bạt (2005) [6]; Nguyễn Thanh Bình (2007) [9]; Nguyễn Thanh Bình (2011) [10]; Vũ Khắc Bình & Lê Quốc Anh (2009) [11]; Bộ Giáo dục & Đào tạo (2010) [13, 14]; Nguyễn Công Khanh (2012) [22]; Trần Quốc Thành (chủ biên) (2016) [35]; Hà Nhật Thăng - Trần Hữu Hoan (2011) [36]. Như vậy có thể thấy vấn đề nếp sống, quản lý nếp sống học sinh, ý thức công dân của học sinh một đề tài đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trong các công trình của các tác giả mà chúng tôi tìm kiếm được thì chưa có công trình hay bài viết khoa học nào nghiên cứu toàn diện về vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số.

Nếu nghiên cứu về học sinh thì các tác giả mới chỉ đi sâu vào khía cạnh ôn tập và tự học mà chưa đề cập, phân tích đến các mặt khác như ăn ở, sinh hoạt. Đã có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả đưa ra thực trạng và giải pháp quản lý về các hoạt động ngoài giờ lên lớp và đời sống là những hoạt động song song với hoạt động học tập nhưng không nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở. Mặt khác, ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ba Bể cho đến nay, cũng chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác học sinh nói chung và vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Chính vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề mới mẻ phù hợp với yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh và đổi mới giáo dục hiện nay.

Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Công dân và ý thức công dân 1. Công dân Trong lịch sử phát triển của xã hội, ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt đến với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì cách tổ chức những hoạt động phối hợp, những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu, đã hình thành hoạt động quản lý. Con người tồn tại và phát triển thông qua quá trình lao động riêng lẻ và hợp tác lao động, từ những nhóm nhỏ cho đến những phạm vi rộng lớn đều cần đến sự hoạch định, tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm tra đánh giá, tức là được tác động của sự quản lý.

Tùy theo cách tiếp cận, quản lý được hiểu với nhiều cách khác nhau như sau: F. Tay Lor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất [dẫn theo 40]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Giáo trình - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định [dẫn theo 40]. Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia: Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý [dẫn theo 41].

Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra [dẫn theo 41]. Theo Trần Quốc Thành, quản lý được hiểu một cách rất ngắn gọn: “Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực” [35]. Còn tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức". Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [19].

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích.) của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Ý thức công dân Ý thức công dân được hiểu là những phương thức hoạt động, hành vi ứng xử của con người được lặp đi, lặp lại thành nề nếp, thành thói quen, thành phong tục tập quán được xã hội công nhận. Nói cách khác đó là hệ thống thái độ, hành vi của mỗi con người.

Chừng nào hệ thống thái độ hành vi của con người chứa đựng, phản ánh được các giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại, dân tộc và gia đình thì khi đó có ý thức công dân. Như vậy ý thức công dân có thể hiểu là sự phản ánh những chuẩn mực của nền văn hóa mà ở đó mọi người xử sự đều thể hiện theo những giá trị, những quy định của xã hội phù hợp với điều kiện và đối tượng cụ thể. Tóm lại ý thức công dân là những biểu hiện của nếp sống (trong quan hệ hành vi ứng xử, hành động, hoạt động đối với thiên nhiên, đồ vật, với người khác, với cộng đồng xã hội và bản thân) được xem là phù hợp với những giá trị, chuẩn mực văn hóa của xã hội trong những điều kiện hoàn cảnh sống nhất định. Ý thức công dân là một trong những nội dung của nhân cách đạo đức của con người, là lĩnh vực mà toàn xã hội quan tâm.

Song để có được ý thức công dân con người phải trải qua một quá trình giáo dục, rèn luyện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ