Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trên thế giới thuật ngữ “Nếp sống”, “Ý thức” đã được nêu ra và nghiên cứu từ cuối thế kỉ 19. Vào những năm 70 - 80 của thế kỉ XX việc nghiên cứu nếp sống, ý thức ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu phát triển khá mạnh mẽ.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau: “Bàn về khái niệm ý thức” [7]; “Ý thức Xô Viết hôm nay và ngày mai” [20]; “Ý thức xã hội chủ nghĩa” [32]; “Ý thức xã hội chủ nghĩa” [38]. Hầu hết các tác phẩm trên đều khẳng định cơ sở của giáo dục ý thức công dân xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa và luôn dựa trên cơ sở của tính tập thể, tính giai cấp, đối lập với ý thức, nếp sống tư bản chủ nghĩa chạy theo đồng tiền, lối sống thực dụng. Trong những thập kỉ gần đây vấn đề lối sống, nếp sống, ý thức công dân của học sinh, sinh viên cũng được nghiên cứu nhiều. Trong cuốn “The student revolution Aglobananalysis” xuất bản năm 1970 tại Ấn Độ đã đề cập đến vấn đề của sinh viên thế giới: thái độ đối với những sự kiện chính trị, đảng phái, chính sách của Chính phủ: sự tham gia của các sinh viên trong phong trào chính trị - xã hội ở các nước; các tổ chức xã hội và đoàn thể của sinh viên… Nhưng vấn đề ý thức công dân cũng chỉ được xem xét và mô tả một cách rời rạc, chưa khai thác được khía cạnh văn hóa trong một chỉnh thể nếp sống, ý thức.
Ở trong nước Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu lối sống, nếp sống, ý thức công dân đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều công trình nghiên cứu công phu như công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trình “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính (1875-1921). Trong tác phẩm này hầu hết những phong tục xã hội, phong tục trong gia tộc, thói quen, nếp sống, ý thức của con người Việt Nam kể từ xưa đến đầu thế kỷ XX được tác giả phản ánh một cách khách quan, từ đó ca ngợi những phẩm chất, thói quen tốt của con người Việt Nam, đồng thời mạnh dạn phê phán các yếu tố lạc hậu, trì trệ trong các phong tục, thói quen, nếp sống… không phù hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc. Tư tưởng tiến bộ của Phan Kế Bính đã được Đảng ta quán triệt trong các nghị quyết nhằm xây dựng ở Việt Nam một nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại cũng đã nhấn mạnh việc xây dựng “Đời sống mới” (sau này đổi thành nếp sống mới), cách làm việc mới, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ lòng nhân ái, kính già, yêu trẻ, có lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu Tổ quốc.
Trong lúc nước nhà chưa thống nhất, việc “xóa bỏ, cải tạo nếp sống cũ lạc hậu và xây dựng nếp sống mới là nhiệm vụ to lớn và phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành, như Hồ Chủ tịch nói: “Một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [28, tr. Trong thời gian gần đây việc nghiên cứu lối sống, nếp sống nói chung và ý thức công dân cho HS dân tộc thiểu số nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm và một số công trình, luận án đã đi sâu vào những vấn đề cụ thể như: Lê Vân Anh (Chủ biên) - Lưu Thu Thủy - Trịnh Thị Anh Hoa (2013) [1]; Đặng Quốc Bảo (1997) [4]; Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004) [5]; Nguyễn Trần Bạt (2005) [6]; Nguyễn Thanh Bình (2007) [9]; Nguyễn Thanh Bình (2011) [10]; Vũ Khắc Bình & Lê Quốc Anh (2009) [11]; Bộ Giáo dục & Đào tạo (2010) [13, 14]; Nguyễn Công Khanh (2012) [22]; Trần Quốc Thành (chủ biên) (2016) [35]; Hà Nhật Thăng - Trần Hữu Hoan (2011) [36]. Như vậy có thể thấy vấn đề nếp sống, quản lý nếp sống học sinh, ý thức công dân của học sinh một đề tài đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn trong các công trình của các tác giả mà chúng tôi tìm kiếm được thì chưa có công trình hay bài viết khoa học nào nghiên cứu toàn diện về vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số.
Nếu nghiên cứu về học sinh thì các tác giả mới chỉ đi sâu vào khía cạnh ôn tập và tự học mà chưa đề cập, phân tích đến các mặt khác như ăn ở, sinh hoạt. Đã có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả đưa ra thực trạng và giải pháp quản lý về các hoạt động ngoài giờ lên lớp và đời sống là những hoạt động song song với hoạt động học tập nhưng không nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở. Mặt khác, ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ba Bể cho đến nay, cũng chưa có tác giả nào nghiên cứu về công tác học sinh nói chung và vấn đề quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Chính vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp quản lý giáo dục ý thức công dân cho học sinh dân tộc thiểu số là vấn đề mới mẻ phù hợp với yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh và đổi mới giáo dục hiện nay.
Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Công dân và ý thức công dân 1. Công dân Trong lịch sử phát triển của xã hội, ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt đến với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì cách tổ chức những hoạt động phối hợp, những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu, đã hình thành hoạt động quản lý. Con người tồn tại và phát triển thông qua quá trình lao động riêng lẻ và hợp tác lao động, từ những nhóm nhỏ cho đến những phạm vi rộng lớn đều cần đến sự hoạch định, tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm tra đánh giá, tức là được tác động của sự quản lý.
Tùy theo cách tiếp cận, quản lý được hiểu với nhiều cách khác nhau như sau: F. Tay Lor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất [dẫn theo 40]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Giáo trình - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định [dẫn theo 40]. Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia: Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý [dẫn theo 41].
Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra [dẫn theo 41]. Theo Trần Quốc Thành, quản lý được hiểu một cách rất ngắn gọn: “Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực” [35]. Còn tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức". Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [19].
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích.) của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Ý thức công dân Ý thức công dân được hiểu là những phương thức hoạt động, hành vi ứng xử của con người được lặp đi, lặp lại thành nề nếp, thành thói quen, thành phong tục tập quán được xã hội công nhận. Nói cách khác đó là hệ thống thái độ, hành vi của mỗi con người.
Chừng nào hệ thống thái độ hành vi của con người chứa đựng, phản ánh được các giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại, dân tộc và gia đình thì khi đó có ý thức công dân. Như vậy ý thức công dân có thể hiểu là sự phản ánh những chuẩn mực của nền văn hóa mà ở đó mọi người xử sự đều thể hiện theo những giá trị, những quy định của xã hội phù hợp với điều kiện và đối tượng cụ thể. Tóm lại ý thức công dân là những biểu hiện của nếp sống (trong quan hệ hành vi ứng xử, hành động, hoạt động đối với thiên nhiên, đồ vật, với người khác, với cộng đồng xã hội và bản thân) được xem là phù hợp với những giá trị, chuẩn mực văn hóa của xã hội trong những điều kiện hoàn cảnh sống nhất định. Ý thức công dân là một trong những nội dung của nhân cách đạo đức của con người, là lĩnh vực mà toàn xã hội quan tâm.
Song để có được ý thức công dân con người phải trải qua một quá trình giáo dục, rèn luyện.