mở đầu có tính chất chung nhất, liên quan đến đối tượng cần nghiên cứu và phải chính xác hoá những mối liên quan giữa khái niệm đó với các khái niệm cơ bản gần với chúng. Trước hết cần đề cập đến các khái niệm giáo dục thể chất và hệ thống giáo dục thể chất cũng như các khái niệm có liên quan như phát triển thể chất, hoàn thiện thể chất, văn hoá thể chất và thể thao. Khái niệm giáo dục thể chất Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người. Tổng hợp quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con người.
Giáo dục thể chất được chia thành hai mặt riêng biệt, dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động. - Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất đó là quá trình truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người qua đó hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết trong cuộc sống và những hiểu biết có liên quan (tri thức chuyên môn, luật, phương pháp, phương tiện của GDTC) Kỹ thuật các môn thể thao, các hoạt động sống cơ bản: đi, chạy, nhảy, leo, trèo. Kỹ năng, kỹ xảo ngành nghề du lịch, giải trí. - Bản chất của thành phần thứ 2 trong giáo dục thể chất là sự tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất vận động, đảm bảo phát triển năng lực vận động.
Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng ấy của GDTC được gắn liền với trí dục, đạo đức, mỹ thuật và giáo dục lao động. Bên cạnh thuật ngữ GDTC người ta thường dùng thuật ngữ chuẩn bị thể lực, về bản chất hai thuật ngữ này có ý nghĩa như nhau. Nhưng thuật ngữ thứ 2 thường được nhắc tới khi nhấn mạnh tính thực dụng của GDTC đối với lao động hoặc các hoạt động khác. GDTC kết hợp các mặt giáo dục khác như: đức, trí, thể, mĩ nhằm phát triển con người cân đối toàn diện.
Khái niệm phát triển thể chất Thể chất chỉ chất lượng cơ thể con người Phát triển thể chất là qúa trình hình thành và thay đổi hình thái chức năng cơ thể diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi cá nhân (chúng được hình thành trên và trong cái nền thân thể ấy). Hình thái: 2 Thể chất con người có thể nhìn thấy cân đo, đong đếm được, hình thái bao gồm chiều cao cân nặng, các chỉ số vòng ngực vòng eo, vòng đùi, vòng cổ, vòng bụng, chiều dài bàn tay bàn chân v. tất cả các chỉ số đó có thể cân đo đong đếm được gọi là hình thái.2 Chức năng: Các chỉ số về sinh lý sinh hoá, sinh cơ trong cơ thể. VD: trọng lượng của tim, mạch đập lưu lượng phút, lưu lượng tâm thu, thông khí phổi, hệ cơ xương, thần kinh.3 Quá trình phát triển thể chất đồng thời là quá trình tự nhiên và quá trình Xã hội.
- Phát triển thể chất là 1 quá trình tự nhiên đồng thời là quá trình xã hội. Phát triển thể chất là quá trình tự nhiên vì nó tuân theo những quy luật sinh học tự nhiên, như quy luật phát triển thể chất theo lứa tuổi giới tính, quy luật thống nhất hữu cơ giữa cơ thể và môi trường, quy luật thay đổi về hình thái dẫn đến thay đổi về chức năng, theo những quy luật thay đổi số lượng dẫn đến thay đổi chất lượng. Tuy vậy sự phát triển thể chất của con người còn chịu sự chi phối của môi trường xã hội như điều kiện sống vật chất, điều kiện vệ sinh, điều kiện lao động, học tập, nghỉ ngơi. - Sự phát triển thể chất của con người chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: Bẩm sinh di truyền, môi trường (điều kiện sống) và giáo dục.
Trong đó bẩm sinh di truyền là tiền đề vật chất cho sự phát triển. Ví dụ: 2 bố mẹ đều khoẻ mạnh thì khi sinh ra con, đứa con đó sẽ có điều kiện thuận lợi phát triển thể chất. Môi trường (điều kiện sống) tác động đến sự phát triển thể chất một cách tự phát nghĩa là với điều kiện như ăn uống đầy đủ, lao động đúng mức thì thể chất phát triển tốt và ngược lại. Giáo dục: Tác động đến sự phát triển thể chất 1 cách tự giác (chủ động, tích cực hợp lý).
Về bản chất giáo dục là quá trình điều khiển sự phát triển thể chất 1 cách hợp lý hoá. Vai trò của giáo dục còn thể hiện ở chỗ có thể khắc phục được những hậu quả tiêu cực của lao động, học tập hoặc những hoạt động sống khác gây nên. VD: Như chữa các bệnh cong vẹo cột sống hoặc phát triển mất cân đối giữa các bộ phân cơ thể, hồi phục chức năng của các cơ quan bị tổn thương, thậm trí thông qua tập luyện có thể tạo ra được những phẩm chất mà bản thân di truyền không có, VD: khả năng làm việc trên không trung hay dưới độ sâu của nước. - Cả 3 yếu tố này diễn ra đồng thời, có quan hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong việc phát triển tố chất và nhân cách con người.
Trên cơ sở yếu tố bẩm sinh di truyền là tiền đề cũng với điều kiện sống phù hợp đảm bảo tính khoa học và quá trình giáo dục diễn ra đúng lúc sẽ mang lại hiệu quả cao. *Tập luyện TDTT sẽ thúc đẩy và nâng cao sự phát triển thể chất như tăng cường sức khoẻ, thể hình đẹp, cân đối nâng cao các khả chức phận của cơ thể như tim, phổi, hệ tim mạch, hô hấp… nâng cao và phát triển các tố chất thể lực, sức đề kháng với bệnh tật, các năng lực vận động cơ bản của cuộc sống như chạy, nhảy, bò, trườn. ngoài ra còn là mục tiêu để rèn luyện phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách của con người và có thể khẳng định một điều rằng người nào tập luyện TDTT 1 cách hợp lý thì chắc chắn sẽ có sự phát triển thể chất hơn hẳn người không tập luyện TDTT mà do sự phát triển của các quy luật tự nhiên (bẩm sinh di truyền). Khái niệm về sức khoẻ.
3 Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đó là một trạng thái hài hoà về thể chất, tinh thần và xã hội, mà không chỉ nghĩa là không có bệnh hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả. Sức khoẻ bao gồm sức khoẻ cá thể (từng người), sức khoẻ gia đình, sức khoẻ cộng đồng, sức khoẻ xã hội. Sức khoẻ là một trong những yếu tố cơ bản, đầu tiên để học tập, lao động, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Sức khoẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cá nhân, môi trường, cộng đồng, xã hội, tình trạng và những vấn đề chung của từng nước và toàn thế giới môi trường sinh thái, chiến tranh khu vực, mức sống còn thấp, sự bóc lột ở một số nước chậm phát triển.
Khái niệm thể dục thể thao Khoảng những năm 70 về trước thuật ngữ TD và TT đã được giải thích bằng cách cắt nghĩa từng từ. Ví dụ: Thể là cơ thể, dục là giáo dục "giáo dục cơ thể", song thuật ngữ TDTT vẫn rơi vào tình trạng chưa được xác định nội dung cụ thể. Năm 1972 cuốn sách dịch đầu tiên về lý luận và phương pháp giáo dục thể chất đã nêu được nội dung của khái niệm "TDTT là tổng hoà các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo ra trong qúa trình phát trển xã hội loài người trong lĩnh vực hoàn thiện thể chất cho con người". Thuật ngữ TDTT được dùng lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 19 trong ngôn ngữ Anh SPORT.
Gần đây trong quá trình phát triển khái niệm TDTT ngày càng hoàn thiện được bổ sung những nội dung mới, theo sự phát triển của nhận thức xã hội sự hiểu biết phát triển - khái niệm phát triển. Thực ra nếu dịch theo đúng từ điển thì thuật ngữ thể dục thể thao đang dùng phải mang tên là văn hoá thể chất. Như vậy thuật ngữ TDTT đồng nghĩa với VHTC. Muốn hiểu được văn hoá thể chất hay TDTT ta cần đi sâu nghiên cứu khái niệm văn hóa.
Trong các ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới có hàng trăm nghĩa khác nhau. Thông thường người ta dùng thuật ngữ văn hoá để chỉ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội, chỉ trình độ học vấn của loài người, văn hoá cũng thường dùng để chỉ hành vi cử chỉ con người "người thiếu văn hóa" những hành vi văn minh. Trong khoa học các tài liệu gốc theo từ điển triết học bách khoa toàn thư người ta định nghĩa "Văn hoá là hoạt động của con người và toàn xã hội nhằm cải tạo tự nhiên. Như vậy văn hoá chính là hoạt động của con người nhằm vào tự nhiên (Cày bừa cuốc xới cải tạo tự nhiên để đáp ứng cho con người để lại những di sản hoạt động gọi là văn hoá).
Trong những tài liệu hiện đại, nội dung khái niệm văn hoá phong phú và đa dạng hơn. Văn hoá bao gồm hoạt động sáng tạo của con người chinh phục tự nhiên, những phương tiện, phương pháp hoạt động và những kết quả hoạt động đem lại cho cá nhân và xã hội. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người đã nảy sinh một loại hoạt động đặc biệt, nó không chỉ tác động vào tự nhiên bên ngoài mà tác động vào ngay phần tự nhiên trong con người, đó là cơ thể con người. Cơ thể con người gồm 2 phần: Thực thể tự nhiên (thể xác) và thực thể xã hội (tinh thần).
Vậy TDTT được hiểu là sự luyện tập cơ thể cải tạo cơ thể bằng sự vận động tích cực của cơ bắp. Đối tượng của TDTT là điều khiển quá trình phát triển thể chất của con người. Để phân tích sâu hơn khái niệm TDTT được xem xét 3 quan điểm. - TDTT là một hoạt động.
Đây là một hoạt động của con người, nó là một hoạt động có đối tượng là con người, đặc biệt của hoạt động này là một hoạt động hỗ trợ bổ sung cho hoạt động chính cơ bản. Nó là một hoạt động phụ làm tăng hiệu quả của hoạt động chính. Nó là 4 hoạt động phụ bổ sung nâng cao hiệu quả hoạt động sống cơ bản. TDTT ra đời gắn liền với lao động cụ thể gắn liền với nghề săn bắn.