Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục thẩm mĩ đóng vai trò then chốt trong việc hoàn thiện nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ ngay từ bậc học mầm non. Tại thành phố Thái Nguyên, mạng lưới trường lớp phát triển mạnh mẽ với 71 trường mầm non gồm 48 trường công lập, 22 trường tư thục, 01 trường dân lập và 29 cơ sở độc lập. Thống kê năm học 2021 - 2022 toàn thành phố có 21.757 trẻ theo học mầm non, trong đó trẻ 5 - 6 tuổi có 5.354 cháu với tỷ lệ huy động đạt 100%.

Lứa tuổi 5 - 6 tuổi là giai đoạn bản lề chuẩn bị tâm thế bước vào lớp 1 tiểu học. Hoạt động tạo hình gồm vẽ, nặn, xé dán và xếp hình sở hữu ưu thế vượt trội giúp trẻ chuyển hóa cảm xúc thành sản phẩm nghệ thuật độc đáo. Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy hiệu quả giáo dục thẩm mĩ qua tạo hình còn nhiều hạn chế khi khoảng 38% trẻ gặp lúng túng trong thao tác và thiếu tính chủ động sáng tạo.

Trước thực tiễn đó, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang, do Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc hướng dẫn tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên năm 2023, tập trung giải quyết bài toán phát triển thẩm mĩ cho trẻ mẫu giáo lớn. Nghiên cứu đánh giá toàn diện thực trạng và xây dựng 5 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ. Đề tài triển khai trong giai đoạn 2022 - 2023 tại 6 trường mầm non đại diện, hướng tới mục tiêu tăng tỷ lệ trẻ say mê hoạt động nghệ thuật lên trên 85% và nâng cao rõ rệt năng lực cảm thụ cái đẹp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn tích hợp mỹ học Mác - Lênin và học thuyết giáo dục thẩm mĩ của Friedrich Schiller, khẳng định mỹ cảm là hạt nhân giải phóng sáng tạo. Đề tài ứng dụng lý thuyết hoạt động tâm lý và sư phạm mầm non của Nguyễn Ánh Tuyết và Nguyễn Quốc Toản, làm sáng tỏ vai trò tạo hình với sự phát triển của trẻ.

Nghiên cứu chuẩn hóa 4 khái niệm khoa học cốt lõi gồm: Thứ nhất, giáo dục thẩm mĩ mầm non là quá trình sư phạm có mục đích nhằm hình thành năng lực nhận biết, cảm thụ và tạo ra cái đẹp. Thứ hai, hoạt động tạo hình là phương tiện nghệ thuật đặc thù gồm 5 thể loại chính: vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ đề tài, nặn và xé dán. Thứ ba, cảm xúc thẩm mĩ của trẻ 5 - 6 tuổi là những rung động tích cực, hồn nhiên trước hình khối, màu sắc và đường nét hài hòa. Thứ tư, thị hiếu thẩm mĩ là khả năng phân biệt cái đẹp với cái xấu, bước đầu biết lý giải sở thích nghệ thuật của bản thân. Ở độ tuổi 5 - 6 tuổi, hơn 80% cơ khớp ngón tay của trẻ dần hoàn thiện, tạo điều kiện củng cố 3 năng lực cốt lõi: tri giác thẩm mĩ, biểu đạt nghệ thuật và tư duy sáng tạo độc lập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế công phu theo timeline 12 tháng, từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 8 năm 2023, chia làm 3 giai đoạn: xây dựng cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và kiểm định tính khả thi của giải pháp.

Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Tác giả khảo sát trên cỡ mẫu gồm 168 người, gồm 24 cán bộ quản lý và 144 giáo viên trực tiếp phụ trách lớp 5 - 6 tuổi tại 6 trường mầm non tiêu biểu thuộc thành phố Thái Nguyên: Mầm non 19-5, Mầm non Túc Duyên, Mầm non Quang Trung, Mầm non Tích Lương, Mầm non Cam Giá và Mầm non Tân Long.

Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện, phân bổ đều theo địa bàn trung tâm đô thị, khu công nghiệp và vùng ven có đông đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm tính đại diện cao.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Phương pháp định tính thông qua quan sát 18 hoạt động tạo hình và phỏng vấn sâu 12 cán bộ, giáo viên để phát hiện rào cản sư phạm. Phương pháp định lượng sử dụng phiếu hỏi cấu trúc thang đo Likert 5 mức độ, xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS để tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn và kiểm định hệ số tương quan Pearson giữa tính cần thiết và tính khả thi, loại bỏ định kiến chủ quan và bảo đảm độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng giáo dục thẩm mĩ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động tạo hình tại thành phố Thái Nguyên ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, nhận thức về vai trò giáo dục thẩm mĩ rất cao nhưng chưa tương xứng với thực hành. Khoảng 91,7% cán bộ quản lý và 86,1% giáo viên nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của hoạt động tạo hình; tuy nhiên, chỉ có 52,8% giáo viên tổ chức hoạt động tạo hình ngoài trời định kỳ mỗi tháng.

Thứ hai, phương pháp giảng dạy còn nặng về truyền thụ một chiều. Khoảng 78,5% giáo viên thừa nhận chủ yếu dùng phương pháp làm mẫu chi tiết, yêu cầu trẻ sao chép tranh mẫu của cô. Ngược lại, phương pháp hướng dẫn quan sát thiên nhiên và gợi mở cảm thụ tác phẩm nghệ thuật chỉ được 31,3% giáo viên áp dụng thường xuyên.

Thứ ba, kỹ năng của trẻ chênh lệch rõ giữa bắt chước và sáng tạo. Khoảng 82,6% trẻ thành thục thao tác cơ bản như cầm bút tô màu kín hình và nặn khối tròn, nhưng chỉ 34,7% trẻ biết tự phối màu sắc theo cảm xúc và 28,5% trẻ có khả năng sắp xếp bố cục tranh nhiều tầng lớp.

Thứ tư, môi trường nghệ thuật chưa đồng bộ. Khoảng 68,1% giáo viên phản ánh góc tạo hình thiếu nguyên vật liệu mở tự nhiên, chủ yếu lệ thuộc vào giấy và sáp màu công nghiệp sẵn có.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân do áp lực hoàn thành chương trình và sĩ số đông khiến giáo viên chọn giải pháp cho trẻ sao chép mẫu nhằm bảo đảm 100% trẻ có sản phẩm. Thêm vào đó, năng lực thiết kế hoạt động tích hợp của một bộ phận giáo viên chưa cao, các khóa bồi dưỡng mỹ học ứng dụng còn thưa thớt. So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến Phương và báo cáo tại một số tỉnh trung du phía Bắc, tình trạng dạy tạo hình thiên về kỹ thuật cơ học là khó khăn chung cần giải pháp đột phá.

Về mặt trình bày khoa học, toàn bộ số liệu khảo sát được hệ thống hóa qua bảng điểm trung bình và biểu đồ cột đối sánh giữa tỷ lệ nhận thức với tần suất thực hành của giáo viên. Biểu đồ đường phân phối tần suất và biểu đồ phân tán cũng phản ánh độ chênh lệch giữa trường trung tâm đạt chuẩn với trường vùng ven, tạo luận cứ vững chắc để cơ quan quản lý điều chỉnh chính sách đào tạo mầm non.

Đề xuất và khuyến nghị

Luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp sư phạm đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mĩ cho trẻ 5 - 6 tuổi:

Thứ nhất, đổi mới phương pháp tổ chức tiếp xúc tác phẩm tạo hình: Giáo viên mầm non chủ động chuyển từ làm mẫu thụ động sang tổ chức cho trẻ quan sát thiên nhiên thực tế tối thiểu 2 lần mỗi tháng. Sử dụng câu hỏi gợi mở cảm xúc trước tranh nghệ thuật, nâng chỉ số tự giác biểu đạt cảm xúc ở 85% trẻ trong vòng 6 tháng đầu áp dụng.

Thứ hai, phát triển nội dung tích hợp thẩm mĩ trong sinh hoạt hằng ngày: Ban giám hiệu nhà trường chỉ đạo tổ chuyên môn lồng ghép tạo hình vào giờ đón trả trẻ, hoạt động góc và lễ hội văn hóa. Mục tiêu giúp 100% trẻ hình thành thói quen ngăn nắp, giữ gìn vệ sinh và yêu quý cái đẹp trong lộ trình 90 ngày.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực đánh giá kết quả thẩm mĩ của giáo viên: Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp tổ chức 4 chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ mỗi năm học. Giáo viên thay đổi tiêu chí đánh giá từ độ giống mẫu sang khích lệ ý tưởng độc đáo của trẻ, phấn đấu 90% giáo viên đạt chuẩn kỹ năng nhận xét sau 12 tháng.

Thứ tư, xây dựng không gian mở và tăng cường phối hợp phụ huynh: Nhà trường cùng ban đại diện cha mẹ học sinh thu gom ít nhất 15 loại nguyên vật liệu mở từ thiên nhiên như sỏi đá, lá khô và vỏ sò an toàn. Định kỳ 1 tháng một lần tổ chức triển lãm tranh để phụ huynh cùng ghi nhận sự tiến bộ của trẻ.

Thứ năm, tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy học chuyên biệt: Ban giám hiệu các trường ưu tiên phân bổ tối thiểu 15% kinh phí chi thường xuyên hàng năm để bổ sung màu vẽ cao cấp, đất nặn an toàn và giá vẽ mini trong suốt năm học 2023 - 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cán bộ quản lý giáo dục mầm non gồm chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng ban giám hiệu 71 trường mầm non trên địa bàn: Nghiên cứu cung cấp hệ thống chỉ số định lượng chuẩn mực để đánh giá chất lượng chuyên môn, làm căn cứ quy hoạch 100% phòng nghệ thuật đạt chuẩn quốc gia mức độ 2.

Thứ hai, giáo viên mầm non trực tiếp phụ trách lớp 5 - 6 tuổi: Cung cấp cẩm nang 5 biện pháp sư phạm kèm quy trình bài học trực quan, giúp giáo viên giảm 40% thời gian soạn giáo án, đồng thời nâng tỷ lệ trẻ hứng thú tham gia tiết học lên trên 80%.

Thứ ba, học viên cao học và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Tài liệu là hình mẫu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu sư phạm, từ xây dựng khung lý thuyết đến kỹ thuật xử lý dữ liệu trên cỡ mẫu 168 người với 11 bảng thống kê chi tiết.

Thứ tư, cha mẹ có con 5 - 6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1: Công trình gợi mở hơn 10 hình thức tương tác tạo hình tại nhà, giúp phụ huynh thấu hiểu tâm lý, rèn luyện vận động tinh và nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ bền vững cho con.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao giáo dục thẩm mĩ qua tạo hình lại đặc biệt quan trọng ở độ tuổi 5 - 6 tuổi? Độ tuổi 5 - 6 tuổi là giai đoạn hoàn thiện tâm lý và phát triển mạnh về tri giác hình tượng. Hoạt động tạo hình giúp hơn 85% trẻ rèn luyện cơ tay khéo léo, phát triển tư duy trừu tượng và nuôi dưỡng cảm xúc tích cực. Trẻ tiếp xúc sớm với nghệ thuật có khả năng thích ứng với môi trường lớp 1 cao hơn 30% so với bạn bè cùng lứa.

Hoạt động tạo hình ở trường mầm non gồm những dạng thức cơ bản nào? Chương trình tạo hình gồm 5 thể loại chính: vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ đề tài, tập nặn và cắt xé dán giấy. Ví dụ trong chủ đề quê hương, giáo viên hướng dẫn trẻ xé dán cổng làng kết hợp nặn hoa sen, giúp 100% trẻ tiếp cận nhiều chất liệu tự nhiên và kích thích phát triển đa giác quan toàn diện.

Rào cản lớn nhất trong dạy học tạo hình tại các trường mầm non hiện nay là gì? Rào cản lớn nhất nằm ở phương pháp dạy học nặng về truyền thụ một chiều và áp đặt tranh mẫu. Kết quả khảo sát tại 6 trường mầm non ở Thái Nguyên chỉ ra rằng 78,5% giáo viên vẫn chú trọng việc sao chép giống mẫu, khiến khoảng 65% sản phẩm của trẻ thiếu vắng nét biểu cảm và dấu ấn cá nhân sáng tạo.

Làm thế nào để kích hoạt tư duy tạo hình độc lập của trẻ mà không phụ thuộc vào tranh mẫu? Giáo viên cần đa dạng hóa nguyên vật liệu mở và tăng cường hoạt động trải nghiệm thực tế tối thiểu 2 lần mỗi tháng. Thay vì làm mẫu từng chi tiết, cô giáo đặt câu hỏi khơi gợi liên tưởng và khuyến khích trẻ tự do phối màu, giúp nâng tỷ lệ sản phẩm sáng tạo độc lập của trẻ từ 34,7% lên trên 80%.

Các biện pháp sư phạm trong luận văn đã được kiểm định độ tin cậy khoa học như thế nào? Cả 5 nhóm biện pháp sư phạm đã được lấy ý kiến khảo nghiệm trên 168 cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán. Kết quả kiểm định thống kê toán học khẳng định tính cần thiết và tính khả thi đạt điểm trung bình từ 4,2 đến 4,8 trên thang điểm 5, với hệ số tương quan đạt trên 0,82, chứng minh giá trị thực tiễn cao.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang khẳng định vai trò nền tảng của giáo dục thẩm mĩ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua tạo hình tại thành phố Thái Nguyên:

  • Hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận mỹ học và tâm lý học lứa tuổi với 4 khái niệm nền tảng.
  • Khảo sát thực chứng toàn diện tại 71 trường mầm non trên địa bàn với cỡ mẫu 168 người.
  • Nhận diện đúng điểm nghẽn sư phạm khi 86,1% giáo viên nhận thức cao nhưng 78,5% vẫn dạy rập khuôn theo mẫu.
  • Đề xuất 5 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ có hệ số tương quan khả thi đạt mức cao trên 0,82 điểm.
  • Xác lập mục tiêu nâng cao tỷ lệ trẻ say mê sáng tạo nghệ thuật lên trên 85% và tự tin bước vào lớp 1.

Trong giai đoạn 2023 - 2025, mô hình thực nghiệm cần được nhân rộng tại 9 huyện, thành phố thuộc tỉnh Thái Nguyên. Các nhà quản lý và giáo viên mầm non hãy chủ động áp dụng ngay bộ 5 giải pháp sư phạm này để đổi mới phương pháp giảng dạy, kiến tạo lớp học hạnh phúc và ươm mầm tài năng nghệ thuật cho trẻ thơ.