Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của giáo dục Pháp - Việt thời cận đại, một thiết chế giáo dục đặc thù như một biểu trưng cho sự hiện diện của thực dân Pháp ở Việt Nam trong mối liên hệ với chính sách khai thác, bóc lột thuộc địa là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và mang tính thiết thực cao. Tuy không phải là một hướng nghiên cứu mới, song vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, bởi từ phạm vi nội dung này đã đưa đến nhiều hướng nghiên cứu mới, những gợi mở, kết nối từ giáo dục cận đại đến giáo dục đương đại. Không chỉ đa dạng về các phương diện nghiên cứu, mà những nhận xét đa chiều xuất phát từ các mục đích nghiên cứu khác nhau là những kênh tham khảo cho nghiên cứu sinh. Bằng nhiều hình thức tiếp cận, trực tiếp hay gián tiếp trên các thư viện mở chính thống, nghiên cứu sinh có thể tìm kiếm tư liệu khá thuận lợi.
Tuy nhiên, việc xử lý tư liệu, tài liệu lưu trữ gặp nhiều khó khăn bởi các tài liệu này hầu hết đã quá cũ, mờ chữ, mất chữ (có tài liệu niên đại gần 1 thế kỷ). Từ những nguồn tài liệu tiếp cận, nghiên cứu sinh đã tổng hợp và đưa ra những đánh giá theo quan điểm của các tác giả. Những công trình nghiên cứu về giáo dục Việt Nam thời cận đại 1. Công trình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc sớm nhất phải kể đến cuốn “Lịch sử Giáo dục học thế giới” (1958) của Nguyễn Lân [47].
Đây là công trình đầu tiên đề cập đến nội dung giáo dục Việt Nam giai đoạn Pháp xâm lược. Từ thời điểm đó cho đến cuối những năm 60, đề tài về giáo dục Việt Nam thời kỳ cận đại được tiếp tục nghiên cứu những chỉ thể hiện dưới hình thức các bài lẻ tẻ đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử. Năm 1967, Nguyễn Trọng Hoàng đăng bài “Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam” (số 96) [23]; Nguyễn Anh có các bài: “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến cuối chiến tranh thế giới thứ Nhất” (số 98) [1], “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau đại chiến thế giới thứ Nhất đến cách mạng tháng Tám” (số 102) [2] và “Giáo dục vùng dân tộc ít người, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục tư thục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” (số 107, năm 1968) [3]. Từ những năm 80 trở lại đây, có rất nhiều công trình chuyên khảo về giáo dục Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 đã xuất bản.
Sớm nhất phải kể đến công trình của Vũ Ngọc Khánh “Tìm hiểu giáo dục Việt Nam trước năm 1945” (1985) [43], “Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám” (1996) của Nguyễn Đăng Tiến [71], “Khoa cử và giáo dục Việt Nam” (2005) của Nguyễn Q. Ngoài ra, trong các công trình thông sử có đề cập đến chính sách giáo dục thuộc 7 địa như một bộ phận trong chính sách cai trị của Pháp, như cuốn: “Lịch sử cận đại Việt Nam, 1919 - 1930” (tập 4) (1963) do Trần Văn Giầu chủ biên [21], “Đại cương lịch sử Việt Nam” (tập 3) (2005) do Đinh Xuân Lâm chủ biên [48], “Lịch sử Việt Nam từ 1919 - 1945” (2005) của Nguyễn Đình Lễ [49], “Lịch sử Việt Nam 1919 - 1930”, tập 8, (2007) do Tạ Thị Thúy chủ biên [89], “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX” của Lê Thành Khôi (2014) [46],… hoặc một số công trình về kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc như: “Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ” (1970) của Nguyễn Thế Anh [4], “Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc” (2016) của Nguyễn Văn Khánh [44],… Qua đối tượng là giáo dục Việt Nam thời cận đại, từ nhiều nguồn tư liệu, các nhà nghiên cứu đều xác định thời gian, bối cảnh ra đời và các thành tố cấu thành nền giáo dục Pháp - Việt. Tuy nhiên, xuất phát từ những mục đích khác nhau, hoàn cảnh lịch sử khác nhau đã đưa đến nhiều nhận xét đa chiều. Qua thu thập, phân tích, tổng hợp, chúng tôi chia thành hai khuynh hướng nghiên cứu và đánh giá sau: khuynh hướng đánh giá nền giáo dục Pháp - Việt chỉ có hạn chế và khuynh hướng đánh giá nền giáo dục Pháp - Việt vừa có tích cực vừa có hạn chế.
* Đánh giá nền giáo dục Pháp - Việt chỉ có hạn chế: Thiên về nhận định phê phán, lớp học giả đầu tiên tiếp cận đề tài giáo dục thuộc địa như Nguyễn Lân, Nguyễn Trọng Hoàng và Nguyễn Anh đều nhất quán xem mục đích của nền giáo dục Pháp chỉ để thực hiện mục đích thực dân nô dịch, kéo lùi sự phát triển văn hóa xã hội Việt Nam. Trình bày về tổ chức trường học, chương trình và phương pháp giảng dạy của trường Pháp - Việt, Nguyễn Lân xem đây là “một nền giáo dục phản khoa học, thiếu thống nhất khiến việc học tập của học sinh nặng về chủ nghĩa cá nhân, thiên về đi học để đi thi” [47, tr. Trích dẫn số liệu trong các tài liệu gốc, Nguyễn Trọng Hoàng đã thống kê sơ bộ về tổng số HS đi học: đồng ấu 56%, dự bị 19%, sơ đẳng 13%, nhì đệ nhất 5%, nhì đệ nhị 4%, lớp nhất 3% [23, tr.20] để khẳng định đây là nền giáo dục mang trình độ thấp kém, lạc hậu và nhỏ bé chỉ nhằm mục đích đào tạo ra một lớp người ngoan ngoãn, trung thành, thừa hành những chính sách cai trị. Từ đó tác giả kết luận: “Cả một dân tộc bị thất học”, “các thế hệ HS được đào tạo thì nông cạn, viển vông, vô ích, không giúp được gì cho họ trong cuộc sống, chỉ biết “sáng vác ô đi tối vác về”, “tuyệt đại bộ phận phụ nữ ở nông thôn đều không biết chữ (97,1% - 99,7%)” [23, tr.
Ngoài giáo dục công lập, Nguyễn Anh còn tập trung tìm hiểu về loại hình giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục tư thục và giáo dục cho dân tộc ít người. Triển khai các chính sách giáo dục của Pháp theo các giai đoạn lịch sử, Nguyễn Anh cho rằng mục đích cuối cùng của thực dân Pháp chỉ là “đào tạo những người cộng tác bản xứ (chủ yếu là thông ngôn) và trí thức để làm tay sai trong các ngành chính trị, kinh tế, văn hóa” [2, tr. Do đó tuyệt đại bộ phận trường lớp là những “trường sơ học tạm lập”, nội dung giảng dạy không ngoài việc dạy đọc, viết, tính toán và một vài nội dung sơ đẳng về khoa học thường thức [3, tr. Thống kê số trường vùng thượng du Trung Kỳ và Bắc Kỳ là 527 trường, số học sinh là 26.101 HS người Kinh), Nguyễn Anh kết luận: nhiều vùng không có trường khiến tỉ lệ thất học ở có nơi đến 100% dân số [3, tr.
Trong một thời gian dài, những công trình này được xem là những tài liệu quan trọng không chỉ cung cấp số liệu mà còn định hướng cho các nghiên cứu và đánh giá của nhiều công trình trong và ngoài nước. Trong những năm 80 và 90, nhiều nghiên cứu chuyên khảo về nền giáo dục do Pháp thực thi ở Việt Nam thời thuộc địa được công bố. Dành một phần nhỏ (28/255 trang), cuốn “Tìm hiểu giáo dục Việt Nam trước năm 1945”, Vũ Ngọc Khánh trình bày khá chi tiết về cuộc đấu tranh kéo dài tám mươi năm chống lại chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam. Tác giả cho rằng đế quốc Pháp đã thực hiện một âm mưu xảo quyệt trong giáo dục khi nội dung chương trình xa nhân dân, xa đại chúng, gạt bỏ tiếng nói của dân tộc trong các khoá học [43, tr.
Nền giáo dục mới đã ngăn cản việc mở trường, chặn đường học của con em nhà nghèo, con em cách mạng. Những hệ quả như: “nhiễm sâu chủ nghĩa cá nhân”, “lũng đoạn bao nhiêu tâm hồn thế hệ” [43, tr. 174-178] được nhấn mạnh, tô đậm. Trong nghiên cứu, Vũ Ngọc Khánh có đề cập đến Đông Kinh nghĩa thục, Hội truyền bá Quốc ngữ với vai trò tích cực trong việc truyền bá chữ dân tộc.
Thế hệ các “thầy giáo và học sinh Đỏ” xuất thân từ Trung Kỳ như Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Hà Huy Tập, Đặng Thai Mai, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đức Cảnh,… được ghi nhận ở vai trò đóng góp của trí thức vào phong trào cách mạng [43, tr. Tuy cuốn sách chỉ đề cập đến giáo dục phổ thông, không đề cập đến chức năng của giáo dục đại học, nhưng những nhận định về đóng góp của tầng lớp trí thức mới là những gợi mở cho chúng tôi khi nhận xét về ảnh hưởng tích cực của giáo dục Pháp - Việt đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Cấu trúc thành 10 chương và trình bày theo tiến trình lịch sử, cuốn “Lịch sử giáo dục Việt Nam” (2005) của Bùi Minh Hiền đã trình bày xuyên suốt lịch sử giáo dục Việt Nam từ thời phong kiến cho đến năm 2011. Dành chương 2 (Nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc) để trình bày về giáo dục Pháp - Việt, tác giả cho rằng chính quyền Pháp đã dùng giáo dục làm công cụ để chinh phục “tâm hồn” người dân thuộc địa.
Những thông số về trường học như số trường, số HS, số GV,… đều hướng đến nhận định đây là nền giáo dục “ngu dân”, “nô dịch” nên chỉ phục vụ cho mục đích thực dân chứ không có đóng góp gì cho sự phát triển [35, tr. Trần Thị Hạnh sau khi trình bày nội dung, chương trình học thông qua hai cuộc cải cách giáo dục đã đi đến nhận xét: Chương trình học bị Pháp hóa cao độ, tiếng mẹ đẻ bị coi thường, rẻ rúng, đề cao tiếng Pháp và văn hóa Pháp, coi tư tưởng thực dân là tư tưởng chính thống [34, tr. Tìm hiểu từ nhiều nguồn tư liệu, nhất là những bản báo cáo của chính quyền Pháp, các tác giả đã phác họa cơ bản bối cảnh ra đời và hoạt động của nhà trường Pháp - Việt ở Việt Nam giai đoạn là thuộc địa của Pháp. Qua các thống kê về dân số học đường, số trường lớp, chương trình giảng dạy, GV,.
các kết luận đưa ra chủ yếu là những hạn chế của loại hình 9 trường học mới. Tuy nhiên, đây không phải là tồn tại hay hạn chế trong các công trình nói trên bởi các tác giả không xem những mặt tích cực là nhiệm vụ nghiên cứu của mình.