Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHẨM CHẤT NGHỀ NGHIỆP SƯ PHẠM CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUÂN SỰ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngay từ thời cổ đại, trong sự phát triển rực rỡ của nền văn hoá, giáo dục Trung hoa, Ai cập, Hy lạp…tư tưởng về người thầy giáo với những yêu cầu cao về PCNC đã hình thành rất sớm trong lịch sử. Dưới chế độ Chiếm hữu nô lệ, khi chủ nô dựng ra nhà trường, đánh dấu sự ra đời của trường học chuyên biệt cũng là lúc “nghề thầy giáo” - lớp người chuyên làm nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục cho con cái chủ nô ra đời từ đây. Khổng Tử (551 - 479 TCN) là một nhà giáo dục vĩ đại người Trung Hoa, Ông đã có những cống hiến lớn lao cho nền giáo dục nhân loại trong đó có tư tưởng về người thầy giáo.
Khổng Tử cho rằng người thầy giáo trước hết phải là người mẫu mực về đạo đức để làm tấm gương cho học trò noi theo; phải tâm huyết với nghề dạy học của mình, dồn hết tâm huyết cho nghề nghiệp, “Học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” - (Học không biết chán, dạy không biết mỏi). Muốn vậy, thầy giáo phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện mình; phải dạy không biết mỏi để trò học không biết chán và tình cảm thầy - trò phải gắn bó như tình cảm cha con. Ngày nay, những ai phấn đấu cho sự nghiệp giáo dục thì thấy tư tưởng về người thầy giáo của Khổng Tử vẫn còn nguyên giá trị. Kômenxki (1592 - 1670), nhà giáo dục thiên tài; người mà những tư tưởng giáo dục do ông đề xuất đánh dấu sự ra đời của ngành khoa học giáo dục.
Trong những tư tưởng giáo dục tiêu biểu của Kômenxki có tư tưởng về người thầy giáo; Ông quý trọng và đề cao những người làm nghề dạy học cũng như chức vị giáo sư bằng tình cảm cao quý của mình: “Người thầy giáo là người nặn tượng cao cả, ở dưới mặt trời này không có chức vụ nào ưu việt bằng”. 11 Kômenxki cũng yêu cầu rất cao về người thầy giáo: đó phải là người mẫu mực về mọi mặt, trong sáng về đạo đức và tác phong, có lòng nhân ái: “Không thể trở thành người thầy nếu không phải là một người cha”[63, tr. Pétxtalôdi (1746 - 1827), xuất phát từ tấm lòng từ thiện và để chống lại cách thức giáo dục bằng roi vọt là chủ yếu lúc bấy giờ, Ông đã yêu cầu mọi thầy giáo phải có lòng nhân ái sâu sắc trong giáo dục con trẻ; vì vậy: thầy giáo không được đàn áp, đè nén sự phát triển tự nhiên của thanh, thiếu niên như đang diễn ra trong trường học đương thời. Usinxki (1824 - 1870) cũng luôn đề cao vai trò của người thầy giáo trong sự nghiệp giáo dục, Ông cho rằng thầy giáo là khâu sống giữa quá khứ và tương lai, sự nghiệp của người thầy giáo là sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử.
Đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của người thầy giáo trong giáo dục, Usinxki là người đầu tiên trong lịch sử nền giáo dục thế giới đề xuất ý tưởng thành lập trường sư phạm, trường chuyên làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên. Sự ra đời học thuyết giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh dấu sự hoàn chỉnh hơn các quan điểm về người thầy giáo. Từ sự khẳng định nhà trường là công cụ của chuyên chính vô sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao vai trò của người thầy giáo trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Lênin khẳng định, giáo viên “có nhiệm vụ truyền bá giáo dục to lớn, trước hết phải trở thành đội quân chủ yếu của sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa,…Thầy giáo phải hòa mình vào cuộc đấu tranh của quần chúng, ngành sư phạm phải có trách nhiệm tổ chức hoạt động của giáo giới theo yêu cầu của xã hội xã hội chủ nghĩa”[63, tr.
Antôn Sêmiônnôvic Makarenkô (1888 - 1939) là nhà giáo dục Xô viết lỗi lạc, ông đã để lại cho nhân loại kho di sản giáo dục khổng lồ; trong những đóng góp to lớn của ông, người ta tìm thấy ở đó hệ thống quan điểm về người thầy giáo, nhà giáo dục. Makarenkô yêu cầu nhà giáo phải có phẩm chất, năng lực làm công tác giáo dục. Ông đòi hỏi người giáo viên phải yêu trẻ, yêu 12 nghề, phải mẫu mực trong lời nói, ăn mặc, cử chỉ, có lý tưởng, có hoài bão ước mơ, sống lạc quan. Muốn vậy người giáo viên phải rèn luyện và học tập không chỉ về phẩm chất tư cách mà cả về tri thức, năng lực, nghệ thuật giáo dục, dạy học.
Ông nói: “Tôi đi đến một niềm tin sâu sắc là không có nhà giáo dục nào cả, còn tốt hơn là có những nhà giáo dục tự rèn luyện kém…”. Do vậy “Chúng ta không những phải cố gắng tối đa mà phải có phẩm chất cao và tài năng khác thường”, “Điều quan trọng là phải làm việc một cách có ý thức và tích cực, coi trọng nghề nghiệp”[63, tr. Đối với giáo viên ở Liên xô cũ và Liên bang Nga hiện nay, việc đào tạo được coi trọng cả kiến thức lý luận, thực tiễn chuyên sâu và những hiểu biết rộng về lý luận sư phạm, phương pháp giảng dạy. Người ta luôn tạo điều kiện cho giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học, khuyến khích giáo viên tự học, tự rèn luyện về PCNC của người thầy giáo.
Trong lĩnh vực hoạt động sư phạm quân sự, người giáo viên ở nhà trường quân đội được giáo dục để có những phẩm chất: niềm tin cộng sản chủ nghĩa và tính nguyên tắc; tinh thần hoàn hảo; sự trong sạch về đạo đức; tính yêu cầu cao; lòng tôn trọng và yêu mến con người; sự liên hệ mật thiết với con người; những phẩm chất ý chí: sự ngoan cường, tính kiên trì, tự chủ, quyết tâm, chủ động; tính sáng tạo của tư duy… Ở Vương quốc Anh, chất lượng giáo viên luôn được coi là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo; để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về đào tạo trong nước và đào tạo cho sinh viên nước ngoài đến học, giáo viên phải thường xuyên được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng suốt đời mới có cơ hội cạnh tranh vào những trường danh tiếng. Trung Quốc quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục bắt đầu từ việc coi trọng đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Họ đã xây dựng các học viện đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, các nhà trường chỉ nhận giáo viên có chất lượng cao về năng lực và phẩm chất vào dạy học. 13 Nhờ có chính sách giáo dục đúng đắn mà Nhật Bản từ một nước nhỏ, nghèo về kinh tế trở thành một trong những nước châu Á hiện đại sớm nhất và nhanh nhất.
Bí quyết đó là họ rất coi trọng đội ngũ giáo viên, phương thức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên luôn được đổi mới, đa dạng; vì vậy đội ngũ giáo viên ở Nhật Bản có chất lượng rất cao cả về phẩm chất và năng lực công tác. Nhìn chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển giáo dục của mọi quốc gia trên thế giới. Mục đích chính là tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên nâng cao trình độ kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, PCNC của người thầy giáo đáp ứng với những thay đổi về kinh tế - xã hội. Nghiên cứu về mô hình nhân cách người giáo viên, theo TS.
Jackson: “Người giáo viên là người ra quyết định có hiểu biết, hiểu được học sinh và có khả năng cấu trúc lại được nội dung giảng dạy để giúp học sinh có thể tiếp thu được nội dung đó; đồng thời, trong khi dạy, biết khi nào phải dạy cái gì”[33, tr. Trong định nghĩa này, P. Jackson muốn nhấn mạnh tới cả phẩm chất, năng lực và phương pháp giảng dạy, truyền thụ kiến thức của người giáo viên. Từ một góc nhìn khác, TS.
Asa Hillirad khẳng định: “Dạy học là một nỗ lực của con người, gồm những tiếp xúc thực tế giữa một giáo viên và một học sinh”. Như vậy bản chất của mối quan hệ quyết định việc giáo viên có thể dạy cho học sinh có sẵn sàng học hay không; việc giáo viên chia sẻ, trao đổi ý kiến và tình cảm của mình một cách chân thành, cởi mở với học sinh sẽ làm cho mối quan hệ này ngày một gắn bó hơn. Mặc dù bề ngoài các quan điểm, các cách nhìn nhận về mô hình người giáo viên có vẻ như mâu thuẫn với nhau, song trên thực tế chúng lại bổ sung cho nhau và tương hợp với nhau để đi đến kết luận rằng mô hình nhân cách của người giáo viên bao gồm “Phẩm chất cá nhân, kiến thức, kỹ năng”. 14 Ở nước ta, nghiên cứu về mô hình nhân cách nghề nghiệp của người lao động, PGS, TS.
Trần Khánh Đức cho rằng có hai loại cấu trúc mô hình nhân cách nghề nghiệp người lao động đáng chú ý: “Một là loại hình cấu trúc theo các bộ phận cấu thành về phẩm chất và năng lực ( đức và tài) thích ứng với các loại hình lao động trong mô hình hoạt động nghề nghiệp. Hai là loại hình cấu trúc bao gồm bốn cấu trúc nhỏ: xu hướng, kinh nghiệm, đặc điểm tâm lý và những đặc trưng di truyền sinh học. Bốn loại cấu trúc nhỏ nêu trên tạo thành một mô hình cấu trúc nhân cách hoàn chỉnh và được phản ánh một cách khá đầy đủ trên nhiều nghiên cứu về tâm lý và giáo dục học trong những năm gần đây”[24, tr. Các nhà Tâm lý học cũng đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này; đáng chú ý là quan điểm coi cấu trúc nhân cách gồm hai mặt thống nhất với nhau là đức và tài (phẩm chất và năng lực).
Trong đó, đức (phẩm chất) bao gồm: phẩm chất xã hội: thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường, thái độ chính trị, thái độ lao động…; phẩm chất cá nhân: các nết, các thói, các “thú” (ham muốn)…; phẩm chất ý chí: tính kỷ luật, tính tự chủ, tính mục đích, tính quả quyết, tính phê phán…; cung cách ứng xử: tác phong, lễ tiết, tính khí… Theo GS, VS. Phạm Minh Hạc “Điều quan trọng hơn là phải phát triển mặt PCNN trong nhân cách như là một giá trị lớn trong “thời đại của những giá trị nhân văn cao cả” và “bàn tay vàng”.