Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Những hiểm họa suy thoái môi trường ngày càng hiện rõ và trực tiếp đe dọa cuộc sống của loài người. Chính vì vậy, từ giữa thế kỷ XX, các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới đã đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường. Tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên hiệp quốc ở Paris (năm 1948), thuật ngữ “Giáo dục môi trường” được sử dụng.
Vào năm 1970, Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUNC), đã định nghĩa GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ và tương tác giữa con người, nền văn hóa và thế giới vật chất bao quanh, đồng thời cũng quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan đến đặc tính môi trường. Tiếp theo Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977, có rất nhiều hội nghị quốc tế liên quan đến GDMT đã đưa ra mục tiêu, nội dung, phương pháp GDMT; xây dựng chương trình, tài liệu, phương tiện dạy học ở mọi cấp học. Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về các vấn đề môi trường, diễn ra tại Rio de Janero, Brazil đã đưa ra yêu cầu: mọi Chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục. Trước yêu cầu của thực tiễn ở nước ta, hoạt động GDMT được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1980, GDMT luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm sâu sắc và đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về GDMT.
Từ năm 1993, Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua, tại Điều 4 của Luật đã quy định: “Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiện cứu khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường” [20]. Luật bảo vệ môi trường sửa đổi, năm 2005, Điều 107 quy định: “Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường”, “Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khóa của cấp học phổ thông” [20]. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết đã nêu nêu rõ quan điểm: “Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hóa, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống 7 yêu thiên nhiên, sống hài hòa với thiên nhiên của cha ông ta” [2]. Bên cạnh đó, Quyết định số 1636/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân và Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Theo tinh thần của đề án, GDMT và BVMT là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung giáo dục quan trọng trong hệ thống giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Từ đó đến nay, vấn đề GDMT đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục. Các chương trình nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu, các dự án về GDMT đều thuộc diện nhà nước ưu tiên. Những công trình, đề tài nghiên cứu này đã nêu lên một số vấn đề lý luận chung về GDMT đồng thời trên cơ sở đó đã triển khai thực hiện ở các đơn vị trường học.
Nhận thấy được vai trò và tầm quan trọng của công tác GDMT, thông qua việc thay đổi sách giáo khoa giai đoạn 1986 – 1992 các tài liệu chuyên ban và thí điểm, các tác giả viết sách giáo khoa đã chú trọng đến việc đưa nội dung GDMT vào sách, đặc biệt là ở môn Sinh, Địa, Hóa, Kỹ thuật. Đợt thay sách giáo khoa bắt đầu từ năm 2002 đã tích hợp kiến thức môi trường vào tất cả các môn học. Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về GDMT cấp nhà nước, nhiều đề tài luận án tiến sỹ, thạc sỹ đã và đang được thực hiện, có tác dụng mở rộng nội dung và nâng cao hiệu quả của việc GDMT. Trong thời gian qua, các đề tài nghiên cứu về GDMT đã được nghiên cứu ngày càng nhiều, như: “Giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Dược, “Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Thị Thu Hằng, “Một số phương pháp tiếp cận GDMT” của Hoàng Đức Nhuận, “Giáo dục môi trường” của Nguyễn Kim Hồng,… Gần đây, có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý công tác GDMT ở trường phổ thông ở Quảng Trị (của Nguyễn Đăng Hậu), Thừa Thiên Huế (của Nguyễn Vinh, Nguyễn Thị Hồng Nhật), Quảng Ngãi (của Võ Thị Thu Cúc), Thành phố Đà Nẵng (của Nguyễn Tý), Thành phố Hồ Chí Minh (của Trần Thị Hồng Châu),… Kết quả của các đề tài, luận văn đã đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh cấp trung học.
Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động GDMT ở các trường THCS trên địa bàn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình QL xã hội, QL vật chất và QL thế giới sinh vật.
Dưới các góc độ tiếp cận khác 8 nhau có nhiều quan niệm khác nhau về QL. Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất với sự vận động của những khi quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Theo từ điển Tiếng Việt (1998): “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định” hoặc “quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác độngcủa chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”[16]. Tóm lại, Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển để đạt được mục tiêu đã đề ra. Các chức năng quản lý Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học. Kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, giúp trù liệu cho việc thực hiện đạt kết quả tốt.
Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất. Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý trong nhà trường. Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục: Chức năng tổ chức của quản lý giáo dục là thiết kế cơ cấu, phương thức và quyền hạn hoạt động của các bộ phận (cơ quan) quản lý giáo dục sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Đây là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ, sự vận hành và sức mạnh của tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của quản lý.
Có thể nói tổ chức là một công cụ. Nhiệm vụ của nó càng chuyên sâu thì khả năng hoạt động có hiệu quả càng cao. Sản phẩm của một tổ chức chỉ tồn tại bên ngoài nó. Một tổ chức phải có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng như quy chế, quy định, nội quy…và coi đây là điều kiện để tổ chức hoạt động có hiệu quả.
Tổ chức giáo dục phải có sự bình đẳng trong quan hệ. Chức năng điều khiển chỉ đạo thực hiện: Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lí. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển, chỉ đạo cho hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện 9 mục tiêu đã đề ra. Người điều kiện hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.
Quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống. Ra quyết định là quá trình xác định vấn đề và lựa chọn một phương án tối ưu trong số những phương án khác. Việc ra quyết định quyết định xuyên suốt trong quá trình quản lí, từ việc lập kế hoạch, xây dựng tổ chức cho đến việc kiểm tra đánh giá. Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra là chức năng cố hữu của quản lý.
Không có kiểm tra sẽ không có quản lý. Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý. Kiểm tra là hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định. Kiểm tra là một quá trình thường xuyên để phát hiện sai phạm, uốn nắn, giáo dục và ngăn chặn, xử lí.
Mục đích của kiểm tra là xem xét hoạt động của cá nhân và tập thể có phù hợp với nhiệm vụ hay không và tìm ra ưu nhược điểm, nguyên nhân. Qua kiểm tra người quản lí cũng thấy được sự phù hợp giữa thực tế, nguồn lực và thời gian, phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề đặt ra.