Quản lý Giáo dục Môi trường cho học sinh THCS Tây Giang, Quảng Nam

Quản lý giáo dục môi trường cho học sinh THCS huyện Tây Giang, Quảng Nam: Giải pháp nâng cao nhận thức, hành vi bảo vệ môi trường trong nhà trường.

Chuyên ngành

Quản lí Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

130
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4. Giả thiết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Phạm vi nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

9. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Các chức năng quản lý

1.2.2. Quản lý giáo dục

1.2.3. Quản lý nhà trường

1.2.4. Môi trường

1.2.5. Giáo dục môi trường ở trường THCS

1.2.6. Quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở trường THCS

1.3. Lý luận về hoạt động GDMT ở trường THCS

1.3.1. Tính tất yếu phải đưa GDMT vào nhà trường phổ thông

1.3.2. Mục tiêu giáo dục môi trường ở trường THCS

1.3.3. Nguyên tắc giáo dục môi trường

1.3.4. Ý nghĩa hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở trường THCS

1.3.5. Nội dung GDMT ở trường THCS

1.3.6. Phương pháp giáo dục môi trường

1.3.7. Các hình thức tổ chức GDMT ở trường THCS

1.3.8. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS và vấn đề GDMT

1.3.9. Sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong hoạt động GDMT

1.4. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên

1.5. Quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở trường THCS

1.5.1. Vai trò của Hiệu trưởng và giáo viên đối với quản lý hoạt động GDMT

1.5.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở trường THCS

1.5.3. Các phương pháp quản lý hoạt động GDMT ở trường THCS

1.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDMT ở trường THCS

1.6.1. Môi trường văn hóa – xã hội

1.6.2. Cơ sở vật chất – thiết bị dạy học hoạt động giáo dục môi trường

1.6.3. Tài chính

1.7. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, Giáo dục và Đào tạo huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.1.1. Về điều kiện tự nhiên của huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.1.3. Về tình hình phát triển Giáo dục và Đào Tạo huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.1.4. Về giáo dục THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.2. Khái quát quá trình khảo sát thực trạng

2.2.1. Mục đích khảo sát

2.2.2. Nội dung khảo sát

2.2.3. Phương pháp khảo sát

2.2.4. Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát

2.2.5. Xử lý số liệu

2.3. Thực trạng hoạt động GDMT ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam về hoạt động giáo dục môi trường

2.3.2. Thực trạng công tác giáo dục môi trường ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam hiện nay

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.4.1. Thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục môi trường của Hiệu trưởng ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.4.2. Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục môi trường của Hiệu trưởng ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.4.3. Thực trạng việc giám sát, chỉ đạo hoạt động giáo dục môi trường của Hiệu trưởng ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.4.4. Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục môi trường của Hiệu trưởng ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.4.5. Thực trạng sự phối hợp các lực lượng ngoài nhà trường trong hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.5. Nhận định, đánh giá chung về thực trạng hoạt động giáo dục môi trường và quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

2.5.1. Hạn chế và nguyên nhân

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN TÂY GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường THCS huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam

3.2.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội về tầm quan trọng của công tác giáo dục môi trường và quản lý công tác giáo dục môi trường

3.2.2. Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục môi trường ở trường THCS

3.2.3. Đổi mới hình thức tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục môi trường ở trường THCS

3.2.4. Tăng cường chỉ đạo tổ chức hoạt động giáo dục môi trường ở trường THCS

3.2.5. Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá; thi đua, khen thưởng trong hoạt động giáo dục môi trường ở trường THCS

3.2.6. Nâng cao hiệu quả việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong hoạt động giáo dục môi trường

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Khảo nghiệm nhận thức về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp

3.5. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PL1 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Giáo Dục Môi Trường THCS Tây Giang Thực Trạng

Giáo dục môi trường (GDMT) tại các trường THCS ở huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam đang đối diện với nhiều thách thức. Mặc dù nhận thức về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường ngày càng tăng, việc triển khai GDMT hiệu quả vẫn còn hạn chế. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và suy thoái tài nguyên thiên nhiên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao nhận thức và hành động của học sinh. Theo số liệu thống kê, phần lớn giáo viên tại các trường THCS huyện Tây Giang vẫn chưa được đào tạo chuyên sâu về GDMT, dẫn đến khó khăn trong việc tích hợp các nội dung về môi trường vào chương trình giảng dạy. Cơ sở vật chất phục vụ cho GDMT còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến chất lượng các hoạt động thực hành và trải nghiệm. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, và cộng đồng trong việc GDMT chưa chặt chẽ, làm giảm hiệu quả giáo dục. Trích dẫn từ nghiên cứu của Võ Như Hạnh (2020): “Thực tế cho thấy, nhận thức của một số bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên về vấn đề này chưa cao; việc quản lý hoạt động GDMT vẫn còn nhiều bất cập”.

1.1. Nhận Thức về Giáo Dục Môi Trường tại THCS Tây Giang

Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của giáo dục môi trường vẫn còn hạn chế. Một số cán bộ quản lý chưa thực sự coi trọng vai trò của GDMT, dẫn đến việc đầu tư nguồn lực và thời gian cho hoạt động này chưa tương xứng. Giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc tích hợp kiến thức về môi trường vào các môn học khác, do thiếu tài liệu tham khảo và phương pháp giảng dạy phù hợp. Học sinh, mặc dù có sự quan tâm nhất định đến các vấn đề môi trường, nhưng kiến thức và kỹ năng thực hành còn yếu. Điều này dẫn đến tình trạng các em chưa có đủ khả năng để tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả.

1.2. Cơ Sở Vật Chất Phục Vụ Giáo Dục Môi Trường

Cơ sở vật chất phục vụ cho GDMT tại các trường THCS huyện Tây Giang còn nhiều thiếu thốn. Các phòng thí nghiệm, phòng thực hành, và các trang thiết bị dạy học hiện đại còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng các hoạt động thực hành và trải nghiệm của học sinh. Thư viện của các trường THCS chưa có đầy đủ các tài liệu tham khảo về môi trường, gây khó khăn cho giáo viên và học sinh trong việc tìm kiếm thông tin và nghiên cứu. Bên cạnh đó, môi trường học tập chưa thực sự xanh – sạch – đẹp, chưa tạo được không gian lý tưởng cho việc GDMT.

II. Thách Thức Trong Giáo Dục Môi Trường THCS Góc Nhìn Tây Giang

GDMT tại các trường THCS ở Tây Giang đối diện với nhiều thách thức, bao gồm: thiếu nguồn lực tài chính, trình độ chuyên môn của giáo viên còn hạn chế, và sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, và cộng đồng chưa chặt chẽ. Các vấn đề ô nhiễm môi trườngbiến đổi khí hậu cũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân địa phương, đòi hỏi các giải pháp GDMT thiết thực và hiệu quả hơn. Cần có các biện pháp can thiệp cụ thể để giải quyết những thách thức này, nhằm nâng cao chất lượng GDMT và tạo ra những thay đổi tích cực trong hành vi và nhận thức của học sinh. Ví dụ, theo Báo cáo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tây Giang, tỷ lệ học sinh có hành vi bảo vệ môi trường đạt yêu cầu chỉ chiếm khoảng 60%, cho thấy sự cần thiết phải tăng cường các hoạt động thực hành và trải nghiệm trong GDMT.

2.1. Thiếu Nguồn Lực Tài Chính Cho Giáo Dục Môi Trường

Nguồn lực tài chính dành cho GDMT tại các trường THCS huyện Tây Giang còn hạn chế, gây khó khăn cho việc đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị dạy học, và tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Ngân sách nhà nước cấp cho giáo dục còn eo hẹp, trong khi các nguồn tài trợ từ các tổ chức xã hội và doanh nghiệp chưa được khai thác hiệu quả. Do đó, các trường THCS cần chủ động tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đảm bảo đủ kinh phí cho việc triển khai GDMT.

2.2. Hạn Chế Về Trình Độ Chuyên Môn Của Giáo Viên

Trình độ chuyên môn của giáo viên về GDMT còn hạn chế, gây khó khăn cho việc tích hợp kiến thức về môi trường vào các môn học khác và tổ chức các hoạt động thực hành và trải nghiệm. Nhiều giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về GDMT, thiếu kiến thức về các vấn đề môi trường, và chưa nắm vững các phương pháp giảng dạy hiệu quả. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về GDMT, giúp họ nâng cao năng lực giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho học sinh.

2.3. Thiếu Sự Phối Hợp Giữa Nhà Trường Gia Đình Cộng Đồng

Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, và cộng đồng trong việc GDMT chưa chặt chẽ, làm giảm hiệu quả giáo dục. Nhiều phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến các vấn đề môi trường, chưa tạo điều kiện cho con em tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Cộng đồng cũng chưa có những hoạt động cụ thể để hỗ trợ nhà trường trong việc GDMT. Do đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình, và cộng đồng trong việc GDMT, tạo ra một môi trường giáo dục toàn diện và hiệu quả.

III. Phương Pháp Giáo Dục Môi Trường Sáng Tạo Tại THCS Tây Giang

Để nâng cao hiệu quả GDMT tại các trường THCS ở Tây Giang, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy sáng tạo và phù hợp với đặc điểm của học sinh và địa phương. Các phương pháp này nên tập trung vào việc tăng cường tính thực hành, trải nghiệm, và tương tác cho học sinh, giúp các em hiểu sâu sắc hơn về các vấn đề môi trường và có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường. Ví dụ, có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa như tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên, trồng cây xanh, thu gom rác thải, và tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho cộng đồng. Sử dụng các phương tiện trực quan sinh động như video, hình ảnh, và trò chơi để giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức và tăng cường hứng thú học tập.

3.1. Tích Hợp Nội Dung Giáo Dục Môi Trường Vào Môn Học

Tích hợp nội dung GDMT vào các môn học là một phương pháp hiệu quả để giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các vấn đề môi trường và có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường. Giáo viên có thể lồng ghép các kiến thức về môi trường vào các bài giảng, bài tập, và các hoạt động trên lớp. Ví dụ, trong môn Ngữ văn, có thể cho học sinh đọc và phân tích các bài viết về môi trường; trong môn Địa lý, có thể cho học sinh tìm hiểu về các vấn đề môi trường của địa phương; và trong môn Sinh học, có thể cho học sinh nghiên cứu về các loài động thực vật quý hiếm.

3.2. Tổ Chức Các Hoạt Động Ngoại Khóa Về Môi Trường

Tổ chức các hoạt động ngoại khóa về môi trường là một phương pháp hiệu quả để giúp học sinh tăng cường tính thực hành, trải nghiệm, và tương tác, giúp các em hiểu sâu sắc hơn về các vấn đề môi trường và có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường. Các hoạt động ngoại khóa có thể bao gồm tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên, trồng cây xanh, thu gom rác thải, và tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho cộng đồng. Thông qua các hoạt động này, học sinh có thể học hỏi được nhiều kiến thức và kỹ năng về môi trường, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của mình đối với môi trường.

3.3. Sử Dụng Phương Tiện Trực Quan Trong Giáo Dục Môi Trường

Sử dụng các phương tiện trực quan sinh động như video, hình ảnh, và trò chơi là một phương pháp hiệu quả để giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức và tăng cường hứng thú học tập. Các phương tiện trực quan có thể giúp học sinh hình dung rõ hơn về các vấn đề môi trường, từ đó hiểu sâu sắc hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Ví dụ, có thể sử dụng các video về ô nhiễm môi trường để giúp học sinh nhận thức được hậu quả của ô nhiễm; sử dụng các hình ảnh về các loài động thực vật quý hiếm để giúp học sinh yêu quý thiên nhiên; và sử dụng các trò chơi về bảo vệ môi trường để giúp học sinh học tập một cách vui vẻ và hiệu quả.

IV. Hướng Dẫn Giáo Dục Môi Trường THCS Mô Hình Tây Giang Thành Công

Nghiên cứu các mô hình GDMT thành công tại các trường THCS khác ở Việt Nam và trên thế giới để học hỏi kinh nghiệm và áp dụng vào thực tế của Tây Giang. Ví dụ, có thể tham khảo mô hình “Trường học xanh – sạch – đẹp” của Nhật Bản, mô hình “Giáo dục vì sự phát triển bền vững” của UNESCO, hoặc các mô hình GDMT cộng đồng của các tổ chức phi chính phủ. Điều chỉnh và cải tiến các mô hình này để phù hợp với đặc điểm văn hóa, xã hội, và kinh tế của Tây Giang. Chia sẻ kinh nghiệm và kết quả của các mô hình GDMT thành công cho các trường THCS khác trong huyện để nhân rộng và phát huy hiệu quả.

4.1. Xây Dựng Mối Quan Hệ Với Các Tổ Chức Môi Trường

Xây dựng mối quan hệ với các tổ chức môi trường trong và ngoài nước để nhận được sự hỗ trợ về tài chính, chuyên môn, và kinh nghiệm trong việc GDMT. Các tổ chức môi trường có thể cung cấp các tài liệu tham khảo, các khóa đào tạo cho giáo viên, và các chương trình GDMT cho học sinh. Hợp tác với các tổ chức môi trường để tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các dự án nghiên cứu, và các chiến dịch tuyên truyền về bảo vệ môi trường.

4.2. Phát Triển Mạng Lưới Giáo Viên Về Giáo Dục Môi Trường

Phát triển mạng lưới giáo viên về GDMT trong huyện để tạo ra một cộng đồng học tập và chia sẻ kinh nghiệm. Tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn, và sinh hoạt chuyên môn để giáo viên có cơ hội trao đổi kiến thức, kỹ năng, và phương pháp giảng dạy về GDMT. Khuyến khích giáo viên tham gia vào các dự án nghiên cứu, các hoạt động sáng tạo, và các cuộc thi về GDMT.

4.3. Đầu Tư Cơ Sở Vật Chất Cho Giáo Dục Môi Trường

Đầu tư cơ sở vật chất cho GDMT, bao gồm xây dựng các phòng thí nghiệm, phòng thực hành, và các khu vực trồng cây xanh. Trang bị các thiết bị dạy học hiện đại, như máy chiếu, máy tính, và các phần mềm mô phỏng về môi trường. Cung cấp đầy đủ các tài liệu tham khảo về môi trường cho thư viện của các trường THCS.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Giáo Dục Môi Trường Bài Học Từ Tây Giang

Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của các biện pháp GDMT đã triển khai tại các trường THCS ở Tây Giang. Thu thập dữ liệu về kiến thức, thái độ, và hành vi của học sinh về môi trường thông qua các bài kiểm tra, phỏng vấn, và quan sát. Phân tích dữ liệu để xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả GDMT. Sử dụng kết quả nghiên cứu để điều chỉnh và cải tiến các biện pháp GDMT, nhằm nâng cao chất lượng GDMT và tạo ra những thay đổi tích cực trong hành vi và nhận thức của học sinh. "Việc quản lý hoạt động GDMT cho học sinh ở các trường THCS là một trong những yêu cầu cấp bách và quan trọng", trích dẫn từ Luận văn của Võ Như Hạnh

5.1. Đo Lường Sự Thay Đổi Trong Nhận Thức Về Môi Trường

Thực hiện các khảo sát định kỳ để đo lường sự thay đổi trong nhận thức về môi trường của học sinh. Sử dụng các câu hỏi mở và đóng để đánh giá kiến thức, thái độ, và hành vi của học sinh về môi trường. So sánh kết quả khảo sát trước và sau khi triển khai các biện pháp GDMT để đánh giá hiệu quả của các biện pháp này.

5.2. Đánh Giá Tác Động Đến Hành Vi Bảo Vệ Môi Trường

Quan sát và ghi nhận các hành vi bảo vệ môi trường của học sinh trong và ngoài nhà trường. Phỏng vấn giáo viên, phụ huynh, và cộng đồng để thu thập thông tin về hành vi bảo vệ môi trường của học sinh. Sử dụng các chỉ số cụ thể để đo lường mức độ tham gia của học sinh vào các hoạt động bảo vệ môi trường.

5.3. Phản Hồi Từ Học Sinh Giáo Viên Cộng Đồng Về Giáo Dục Môi Trường

Thu thập phản hồi từ học sinh, giáo viên, và cộng đồng về các biện pháp GDMT đã triển khai. Sử dụng các phiếu khảo sát, phỏng vấn, và các buổi thảo luận nhóm để thu thập thông tin phản hồi. Phân tích phản hồi để xác định những điểm mạnh và điểm yếu của các biện pháp GDMT. Sử dụng thông tin phản hồi để điều chỉnh và cải tiến các biện pháp GDMT, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của học sinh, giáo viên, và cộng đồng.

VI. Giáo Dục Môi Trường THCS Tây Giang Tương Lai Phát Triển Bền Vững

Tiếp tục đầu tư vào GDMT tại các trường THCS ở Tây Giang, nhằm tạo ra một thế hệ học sinh có ý thức trách nhiệm cao đối với môi trường và có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường. Xây dựng các chương trình GDMT phù hợp với đặc điểm của địa phương và nhu cầu của học sinh. Tạo ra một môi trường học tập xanh – sạch – đẹp, nơi học sinh có thể học hỏi và trải nghiệm về môi trường một cách tốt nhất.

6.1. Lồng Ghép Giáo Dục Môi Trường Với Văn Hóa Cơ Tu

Lồng ghép GDMT với văn hóa Cơ Tu để tạo ra một chương trình GDMT độc đáo và phù hợp với đặc điểm văn hóa của địa phương. Tìm hiểu và khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của người Cơ Tu liên quan đến bảo vệ môi trường. Sử dụng các câu chuyện, truyền thuyết, và các nghi lễ truyền thống để truyền đạt kiến thức và kỹ năng về môi trường cho học sinh.

6.2. Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Ở Tây Giang

Phát triển du lịch sinh thái cộng đồng ở Tây Giang để tạo ra cơ hội cho học sinh học hỏi và trải nghiệm về môi trường, đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương. Tổ chức các tour du lịch sinh thái cho học sinh và du khách tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng nghề truyền thống, và các di tích lịch sử văn hóa. Hướng dẫn học sinh và du khách về các hành vi bảo vệ môi trường khi tham gia vào các hoạt động du lịch.

6.3. Nâng Cao Năng Lực Quản Lý Giáo Dục Môi Trường

Nâng cao năng lực quản lý GDMT cho cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Tổ chức các khóa đào tạo về quản lý GDMT cho cán bộ quản lý giáo dục. Xây dựng các quy định và chính sách hỗ trợ cho GDMT. Tăng cường kiểm tra, giám sát, và đánh giá hiệu quả của các hoạt động GDMT.

28/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Những hiểm họa suy thoái môi trường ngày càng hiện rõ và trực tiếp đe dọa cuộc sống của loài người. Chính vì vậy, từ giữa thế kỷ XX, các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới đã đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường. Tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên hiệp quốc ở Paris (năm 1948), thuật ngữ “Giáo dục môi trường” được sử dụng.

Vào năm 1970, Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUNC), đã định nghĩa GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ và tương tác giữa con người, nền văn hóa và thế giới vật chất bao quanh, đồng thời cũng quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan đến đặc tính môi trường. Tiếp theo Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977, có rất nhiều hội nghị quốc tế liên quan đến GDMT đã đưa ra mục tiêu, nội dung, phương pháp GDMT; xây dựng chương trình, tài liệu, phương tiện dạy học ở mọi cấp học. Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về các vấn đề môi trường, diễn ra tại Rio de Janero, Brazil đã đưa ra yêu cầu: mọi Chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục. Trước yêu cầu của thực tiễn ở nước ta, hoạt động GDMT được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1980, GDMT luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm sâu sắc và đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về GDMT.

Từ năm 1993, Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua, tại Điều 4 của Luật đã quy định: “Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiện cứu khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường” [20]. Luật bảo vệ môi trường sửa đổi, năm 2005, Điều 107 quy định: “Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường”, “Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khóa của cấp học phổ thông” [20]. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết đã nêu nêu rõ quan điểm: “Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hóa, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống 7 yêu thiên nhiên, sống hài hòa với thiên nhiên của cha ông ta” [2]. Bên cạnh đó, Quyết định số 1636/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân và Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Theo tinh thần của đề án, GDMT và BVMT là một nhiệm vụ cấp bách, một nội dung giáo dục quan trọng trong hệ thống giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Từ đó đến nay, vấn đề GDMT đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục. Các chương trình nghiên cứu, các đề tài nghiên cứu, các dự án về GDMT đều thuộc diện nhà nước ưu tiên. Những công trình, đề tài nghiên cứu này đã nêu lên một số vấn đề lý luận chung về GDMT đồng thời trên cơ sở đó đã triển khai thực hiện ở các đơn vị trường học.

Nhận thấy được vai trò và tầm quan trọng của công tác GDMT, thông qua việc thay đổi sách giáo khoa giai đoạn 1986 – 1992 các tài liệu chuyên ban và thí điểm, các tác giả viết sách giáo khoa đã chú trọng đến việc đưa nội dung GDMT vào sách, đặc biệt là ở môn Sinh, Địa, Hóa, Kỹ thuật. Đợt thay sách giáo khoa bắt đầu từ năm 2002 đã tích hợp kiến thức môi trường vào tất cả các môn học. Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về GDMT cấp nhà nước, nhiều đề tài luận án tiến sỹ, thạc sỹ đã và đang được thực hiện, có tác dụng mở rộng nội dung và nâng cao hiệu quả của việc GDMT. Trong thời gian qua, các đề tài nghiên cứu về GDMT đã được nghiên cứu ngày càng nhiều, như: “Giáo dục BVMT trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Dược, “Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông” của Nguyễn Phi Hạnh, Nguyễn Thị Thu Hằng, “Một số phương pháp tiếp cận GDMT” của Hoàng Đức Nhuận, “Giáo dục môi trường” của Nguyễn Kim Hồng,… Gần đây, có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý công tác GDMT ở trường phổ thông ở Quảng Trị (của Nguyễn Đăng Hậu), Thừa Thiên Huế (của Nguyễn Vinh, Nguyễn Thị Hồng Nhật), Quảng Ngãi (của Võ Thị Thu Cúc), Thành phố Đà Nẵng (của Nguyễn Tý), Thành phố Hồ Chí Minh (của Trần Thị Hồng Châu),… Kết quả của các đề tài, luận văn đã đề xuất được một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh cấp trung học.

Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động GDMT ở các trường THCS trên địa bàn huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát. Nó dùng cho cả quá trình QL xã hội, QL vật chất và QL thế giới sinh vật.

Dưới các góc độ tiếp cận khác 8 nhau có nhiều quan niệm khác nhau về QL. Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất với sự vận động của những khi quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Theo từ điển Tiếng Việt (1998): “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định” hoặc “quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.

Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác độngcủa chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”[16]. Tóm lại, Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển để đạt được mục tiêu đã đề ra. Các chức năng quản lý Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là hoạch định các công việc cần thực hiện một cách chủ động và khoa học. Kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, giúp trù liệu cho việc thực hiện đạt kết quả tốt.

Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng nhất của việc lãnh đạo, soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng nhất. Kế hoạch hoá bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý và bị quản lý trong nhà trường. Chức năng tổ chức trong quản lý giáo dục: Chức năng tổ chức của quản lý giáo dục là thiết kế cơ cấu, phương thức và quyền hạn hoạt động của các bộ phận (cơ quan) quản lý giáo dục sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Đây là chức năng phát huy vai trò, nhiệm vụ, sự vận hành và sức mạnh của tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của quản lý.

Có thể nói tổ chức là một công cụ. Nhiệm vụ của nó càng chuyên sâu thì khả năng hoạt động có hiệu quả càng cao. Sản phẩm của một tổ chức chỉ tồn tại bên ngoài nó. Một tổ chức phải có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng như quy chế, quy định, nội quy…và coi đây là điều kiện để tổ chức hoạt động có hiệu quả.

Tổ chức giáo dục phải có sự bình đẳng trong quan hệ. Chức năng điều khiển chỉ đạo thực hiện: Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lí. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển, chỉ đạo cho hệ thống hoạt động theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện 9 mục tiêu đã đề ra. Người điều kiện hệ thống phải là người có tri thức, có kĩ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.

Quyết định là công cụ chính để điều khiển hệ thống. Ra quyết định là quá trình xác định vấn đề và lựa chọn một phương án tối ưu trong số những phương án khác. Việc ra quyết định quyết định xuyên suốt trong quá trình quản lí, từ việc lập kế hoạch, xây dựng tổ chức cho đến việc kiểm tra đánh giá. Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra là chức năng cố hữu của quản lý.

Không có kiểm tra sẽ không có quản lý. Kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý. Kiểm tra là hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định. Kiểm tra là một quá trình thường xuyên để phát hiện sai phạm, uốn nắn, giáo dục và ngăn chặn, xử lí.

Mục đích của kiểm tra là xem xét hoạt động của cá nhân và tập thể có phù hợp với nhiệm vụ hay không và tìm ra ưu nhược điểm, nguyên nhân. Qua kiểm tra người quản lí cũng thấy được sự phù hợp giữa thực tế, nguồn lực và thời gian, phát hiện những nhân tố mới, những vấn đề đặt ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ