đặt vấn đề nêu trên, chúng tôi rút ra kết luận: Kỹ năng là việc thực hiện có kết quả hành động trên cơ sở áp dụng những kiến thức, kinh nghiệm với những cảm xúc cá nhân phù hợp. Kỹ năng tự bảo vệ Theo từ điển Tiếng Việt “Tự bảo vệ là tự che chở, tự bảo vệ lấy mình, tự mình giữ lấy mình, chống lại sự xâm hại của kẻ khác [38]. Với thuật ngữ này thì thông thường người ta thường liên tưởng đến việc một cá nhân nào đó có thể đang gặp nguy hiểm đe dọa đến sự an toàn, sinh mạng và họ phải nghĩ đến việc dùng cách thức nào đó chẳng hạn như: kêu cứu, võ thuật,… để chống trả, ứng phó với những tình huống khó khăn đó. Nói cách khác, “tự bảo vệ” nghĩa là chủ thể hay cá nhân nào đó cần có những kiến thức, những cách ứng xử phù hợp nhất trong những hoàn cảnh nhất định để tự bảo vệ lấy bản thân.
Ngoài những thuật ngữ nêu trên, đôi khi chúng ta còn được nghe đến thuật ngữ “giữ an toàn” (safety). Theo tác giả Yayne Dendhire, trong bộ sách 13 Healthy Habits của nhà xuất bản giáo dục Macmillan, Úc đã đưa ra khái niệm về giữ an toàn như sau: “Giữ an toàn là tránh khỏi những nguy hại, khỏi những mối nguy hiểm như bị tổn thương về thể xác hoặc tinh thần” [25]. Như vậy, “tự bảo vệ” hay “giữ an toàn” đều cùng mục đích là đem lại sự an toàn cho cá nhân nào đó. Vì vậy, chúng tôi cho rằng: Kỹ năng tự bảo vệ là khả năng con người vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm để nhận diện, đồng thời biết cách ứng phó trước các tình huống bất lợi, những hoàn cảnh nguy hiểm có thể xảy đến để đảm bảo sự an toàn cho bản thân.
Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ 5 - 6 tuổi Nội dung giáo dục trong nhà trường mầm non đa dạng và phong phú bao gồm giáo dục nhiều chủ đề, tổ chức hoạt động giáo dục, tổ chức các hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể,. Các hoạt động giáo dục có những chức năng huấn luyện (hình thành tri thức, kỹ năng, phương thức đánh giá,…), tác động trực tiếp vào ý thức và hành vi người học và kích hoạt sự phát triển của họ. Chức năng đặc thù của các hoạt động giáo dục này là giáo dục và phát triển giá trị cá nhân trên những thang chuẩn chung của cộng đồng và thời đại. Trong đó giáo dục kỹ năng sống là một trong những là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan với kiến thức và thái độ, giúp cá nhân ý thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó có hiệu quả với các yêu cầu, thách thức của cuộc sống hàng ngày, thông qua những mối quan hệ liên nhân cách trong điều kiện sống cụ thể.
Một trong những nội dung của giáo dục kỹ năng sống là giáo dục kỹ năng tự bảo vệ nói riêng có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của trẻ từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội. Có thể thấy rằng, quá trình giáo dục nói chung và quá trình giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi nói riêng là một quá trình giáo dục 14 gồm nhiều thành tố: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức. Các thành tố có quan hệ mật thiết và có tính biện chứng với nhau, đặc biệt là với phương pháp giáo dục để thực hiện mục tiêu giáo dục, mục đích của quá trình sư phạm. Từ quan niệm trên mà theo chúng tôi: Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi là quá trình dưới sự tổ chức, hướng dẫn có mục đích của giáo viên nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng cho trẻ 5 - 6 tuổi để các bé có khả năng tự bảo vệ và đảm bảo an toàn cho bản thân trước các tình huống nguy hiểm.
Những vấn đề chung về kỹ năng tự bảo vệ của trẻ 5-6 tuổi 1. Đặc điểm phát triển của trẻ 5 - 6 tuổi Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ 5 - 6 tuổi cần được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau như: sự chú ý, trí nhớ, tư duy, tưởng tưởng, ngôn ngữ và giao tiếp… Cụ thể như: - Về sức chú ý: nhiều phẩm chất chú ý của trẻ đã được phát triển, trẻ biết hướng ý thức của mình vào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ. Trẻ có khả năng chú ý có chủ định từ 37 - 51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ. Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2 - 3 đối tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động.
Di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hướng dẫn di chuyển tốt. Sự phân tán chú ý ở trẻ còn mạnh, nhiều khi trẻ không tự chủ được do xung lực bản năng chi phối. Ở giai đoạn này ý nghĩa của âm thanh làm cho trẻ đã chú ý nhiều. Từ âm thanh bên ngoài, trẻ biết chú ý tập trung vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong óc trẻ.
Như vậy, với khả năng chú ý có chủ định, trẻ 5 - 6 tuổi có thể tập trung lắng nghe, quan sát, qua đó giúp giáo viên giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ một cách đầy đủ, hiệu quả và chính xác hơn. Giáo viên cũng cần lựa chọn phương pháp hướng dẫn phù hợp, lựa chọn nội dung, hoạt động về kỹ năng tự bảo vệ hấp dẫn, sinh động để tập trung sự chú ý của trẻ. 15 - Về trí nhớ: Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi) và phát triển mạnh ở mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và do yêu cầu của người lớn đối với trẻ ngày càng cao. Loại ghi nhớ có chủ định của trẻ vẫn là ghi nhớ máy móc.
Trẻ có thể dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ dẫn của người lớn vẫn có ý nghĩa. Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xác hơn, ít có những động tác thừa của cơ thể. Trí nhớ hình ảnh đặc biệt phát triển. Trẻ nhớ những bức tranh mà trẻ đã vẽ, nhớ phong cảnh mà trẻ đã tham quan.
Biểu tượng thế giới xung quanh ở trẻ đã gắn kết với nhau, mang tính sinh động và hấp dẫn. Vốn tri thức, biểu tượng và những khái niệm ban đầu về thế giới xung quanh, đòi hỏi trẻ phải nắm vững ngôn ngữ, điều này giúp trẻ phát triền trí nhớ từ ngữ logic. Trẻ nhớ những cảm xúc vui buồn mà trẻ đã trải qua. Trí nhớ cảm xúc là một dạng của sự hồi tưởng giúp đời sống của trẻ thêm phong phú và tinh tế.
Sự hồi tưởng có liên quan đến tự ý thức của trẻ. Trong hồi tưởng của trẻ có những điều liên quan đến những thời điểm quan trọng trong cuộc đời đứa trẻ và trong quan hệ với người khác. Trí nhớ tác động đến quá trình hình thành nhân cách. Trẻ 5 - 6 tuổi có khả năng ghi nhớ chủ định là nền tảng giúp trẻ hình thành và rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ, trẻ vẫn nhớ máy móc nên giáo viên cần tổ chức rèn luyện kỹ năng tự bảo vệ nhiều lần để giúp trẻ ghi nhớ, giải thích cho trẻ hiểu lợi ích việc tự bảo vệ bản thân để trẻ hiểu và từ đó ghi nhớ tốt hơn.
Giáo viên cần xây dựng nội dung về kỹ năng tự bảo vệ thông qua hình ảnh gần gũi, dễ hiểu, kết hợp dùng lời giải thích và cho trẻ luyện tập hình thành kỹ năng tự bảo vệ. - Về tư duy: Ở trẻ 5 - 6 tuổi, tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình tượng và xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới (Tư duy trực quan sơ đồ), những yếu tố của tư duy logic. Khi giải quyết vấn đề đặt ra, trẻ 5 - 6 tuổi hay suy nghĩ dựa vào tư duy trực quan hình ảnh. Trẻ giải quyết các vấn đề dựa vào các hình ảnh cụ thể vẫn dễ dàng hơn khi bài toán đó được giao dưới hình thức các con số trừu tượng.
Do đó, các bài tập, các tình huống về kỹ năng tự 16 bảo vệ của giáo viên đưa ra cho trẻ thực hiện cần có nhiều hình ảnh minh họa. Tư duy của trẻ lúc này tư duy trực quan sơ đồ: Là một bước phát triển trong tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi, là tư duy hình tượng được thực hiện với các hình ảnh đã được sơ đồ hoá. Trẻ sử dụng hình tượng (ký hiệu của sự vật, hiện tượng) để giải quyết nhiệm vụ bài toán, cụ thể trẻ có khả năng đọc hiểu hình vẽ, sơ đồ của sự vật, hiện tượng; dùng sơ đồ đường đi. Dựa vào những kinh nghiệm đã có, trẻ có khả năng kí mã sơ đồ.
Loại tư duy này giúp trẻ lĩnh hội những tri thức ở trình độ khái quát, qua đó có thể giúp trẻ đọc hiểu các sơ đồ thoát hiểm hay biển báo chỉ dẫn trong cuộc sống. Song song đó, ở trẻ hình thành những yếu tố của tư duy lôgic: Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng khá thành thục các vật thay thế và phát triển tốt chức năng ký hiệu của ý thức. Trẻ 5 - 6 tuổi bắt đầu hiểu và hành động với các chữ số, các ký hiệu toán học. - Về trí tưởng tượng: Trí tưởng tượng của trẻ mầm non được phát triển mạnh mẽ.
Tuổi mẫu giáo là tuổi mà nhiều trẻ rất hay tưởng tượng. Hình ảnh tưởng tượng của trẻ bay bổng, giàu màu sắc xúc cảm và đôi khi phi hiện thực. Đầu tuổi mẫu giáo, tưởng tượng của trẻ vẫn chủ yếu mang tính tái tạo, không chủ định. Tưởng tượng tái tạo của trẻ mang tính có chủ định và tích cực hơn.
Tưởng tượng có chủ đích dần được hình thành khi trẻ tự xây dựng ý tưởng, lập kế hoạch và thực hiện ý tưởng ấy ở cuối tuổi. Trẻ biết tưởng tượng theo mục đích, nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động. Lúc này, trẻ 5 - 6 tuổi có khả năng tưởng tượng thầm trong đầu, không cần hỗ dựa trực quan ở bên ngoài.