Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Hàng nghìn năm trước, hoạt động bơi lội và đuối nước của con người được ghi lại qua các bức họa bằng đá ở Hy lạp. Thế kỷ 18, bơi thi được tổ chức tại Châu Âu, phần lớn là bơi ếch. Bơi trở thành một môn thể thao trong đại hội thể thao Olympic hiện đại lần đầu tiên tại Athens năm 1896.
Năm 1908 Liên đoàn bơi thế giới (Fédération Internationale de Natation -FINA) được thành lập (Giáo trình bơi lội, 2004). Chính phủ Anh, cách đây nhiều thập kỷ đã nhận ra tầm quan trọng của việc dạy bơi cho thanh thiếu niên và an toàn dưới nước bằng cách đưa nó vào chương trình giảng dạy quốc gia, tất cả trẻ em sẽ có cơ hội học bơi và được dạy cách giữ an toàn trong và xung quanh nước. Nhấn mạnh công tác huấn luyện bơi cho HS tại các trường học, bơi lội không chỉ là để có thể vui chơi dưới nước với gia đình và bạn bè. Nó cũng quan trọng khi người biết bơi, biết phải làm gì nếu ai đó gặp rắc rối khi một dòng nước mạnh cuốn bạn của bạn ra khỏi bờ, hoặc bạn bị ngã khi qua sông, kênh, hố nước sâu…Bơi lội cũng cực kỳ tốt cho sức khỏe thể chất và tinh thần của của bạn, đó là hoạt động có thể làm ở mọi lứa tuổi (Swim England, 2018).
Tại Australia, đuối nước vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do thương tích không chủ ý ở trẻ em từ 1-3 tuổi (Belinda A Wallis, 2014). Từ năm 1870 câu lạc bộ bơi lội đầu tiên được thành lập và năm 1872 bắt buộc học bơi với mục đích làm giảm sự đuối nước của trẻ em. Năm 1910, một chương trình phối hợp giữa việc hướng dẫn bơi lội và cứu sinh được thành lập tại các trường học công lập. Từ đó đến nay hàng trăm câu lạc bộ bơi được mở rộng tại các khu đô thị và nông thôn, tạo điều kiện cho người dân nói chung, trẻ em nói riêng nâng cao kĩ năng an toàn với nước.
Bên cạnh đó, báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề đuối nước. Ngay từ thế kỉ XIX, các ấn phẩm chi tiết về sự cố đuối nước đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân, và chính vì vậy mà cơ quan giáo dục, cơ quan cứu sinh đã chung tay thiết lập Chương trình học bơi bắt buộc được Chính phủ phê duyệt vào năm 1928. Mặc dù mất một thời gian dài trước khi các chiến lược này hoạt động có hiệu quả, nhưng 9 cho đến nay nhờ các chương trình kĩ năng chống đuối nước, chiến lược nâng cao nhận thức cộng đồng và can thiệp pháp lí, tỉ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em Australia tiếp tục giảm (Belinda A Wallis, 2014). Trong những năm gần đây, vấn đề đuối nước trẻ em được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới.
Các công trình đó đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, sắc tộc, độ tuổi, địa điểm, hậu quả tâm – sinh lý, tàn phế và tử vong. Đuối nước vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong có thể phòng tránh được ở trẻ em trên toàn thế giới. Đánh giá có hệ thống, xác định và phân tích nghiêm túc của các nghiên cứu về các biện pháp can thiệp: Giáo dục, bài học Bơi lội và An toàn dưới nước là những chiến lược hữu hiệu có thể thực hiện được để phòng chống đuối nước cho trẻ em, giảm các vụ đuối nước gây tử vong và không gây tử vong ở trẻ em và thanh thiếu niên hoặc giảm mức độ nghiêm trọng của thương tích do các sự cố đó gây ra (Swim England, 2018), (Belinda A Wallis, 2014). Theo nghiên cứu Đuối Nước ở Trẻ Em (do Liên Minh vì Sự An Toàn của Trẻ Em (TASC), có trụ sở tại Florence, Italy, phối hợp của Văn Phòng Nghiên Cứu của UNICEF thực hiện) tại bốn quốc gia là Băng-la-đét, Cam-pu-chia, Việt Nam và Thái Lan, cùng với hai tỉnh/thành phố của Trung Quốc là Thành phố Bắc Kinh và tỉnh Giang Tây, nghiên cứu chỉ ra rằng tại các quốc gia kể trên, cứ bốn trẻ em tử vong thì có một trẻ bị tử vong do nguyên nhân đuối nước.
Con số này cao hơn số trẻ em tử vong do sởi, bại liệt, ho gà, uốn ván, bạch hầu và lao kết hợp lại (WHO, 2014), (Belinda A Wallis, 2014). Tại Việt Nam, tỉ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ em ngang bằng với tỉ lệ tử vong do các nguyên nhân khác gây ra cho trẻ cùng độ tuổi, và tỉ lệ này bắt đầu tăng lên. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chi phí phòng chống đuối nước ở trẻ em không hề đắt hơn so với các can thiệp phòng chống các bệnh kể trên( Bộ LĐ thương binh & XH, 2017) “Lâu nay, đuối nước vẫn là một nguyên nhân gây tử vong dấu mặt”, ông Gordon Alexander, Giám Đốc Văn Phòng Nghiên Cứu của UNICEF cho biết. “Trong ba thập kỷ qua, các quốc gia đã có những tiến bộ mạnh mẽ không ngừng trong việc giảm thiểu các bệnh truyền nhiễm”.
Tuy nhiên, không có tiến bộ nào đạt được trong việc giảm tỉ lệ tử vong do đuối nước. Vì vậy, đuối nước nổi lên là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong ở trẻ em ở các quốc gia được khảo sát trong báo cáo này (UNICEF, 2018). 10 Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng GD KNS trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền GD chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với mọi người và học để khẳng định mình. Năm 2004, hội nghị GD Thế giới họp tại Dakar (Trần Kiểm, 2009), đã thông qua kế hoạch hành động GD cho mọi người, bao gồm 6 mục tiêu; Mục tiêu 3 nêu rõ: Đảm bảo nhu cầu học tập cho tất cả các thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình KNS thích hợp.
KNS được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác, con người ngày càng mở rộng vốn hiểu biết của mình và xây dựng một xã hội tiến bộ như ngày nay. Việc đánh giá chất lượng GD phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các KNS và tác dụng của KNS đó đối với xã hội và cá nhân”. Sự phát triển toàn diện nhân cách bao gồm sự phát triển về thể chất (thể lực, thể hình, thể năng), tâm trí (trí tuệ, tình cảm)và năng lực thực tiễn (theo Các Mác thì đó là năng lực kỹ thuật tổng hợp, theo UNESCO là KNS). Để đạt được mục tiêu đó, học sinh không chỉ là khách thể mà cuối cùng phải là chủ thể của quá trình nhận thức và quá trình tự GD, tự hoàn thiện nhân cách.
Vì vậy , việc GD không chỉ diễn ra trên lớp, trong trường học mà còn phải được thực hiện ở ngoài lớp, ngoài nhà trường theo phương thức kết hợp GD nhà trường, gia đình và xã hội thông qua các hình thức hoạt động trong môi trường thiên nhiên, sinh hoạt tập thể. Đa số các tác giả cho rằng: KNS nói chung và KN phòng chống đuối nước nói riêng của con người đã được hình thành khi con người hình thành xã hội. Ngày nay xã hội càng ngày càng phát triển thì KNS cũng mở rộng phạm vi không chỉ là bản năng sống mà còn là khả năng thích ứng với xã hội. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam vấn đề GDKNS cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học GD có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn GD giá trị sống, KNS cho HS, sinh viên phù hợp với thực tiễn GD nước nhà.
Trong xu thế hội nhập nhiệm vụ GD của các nước là GD thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những nhiệm vụ chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội. Nói cách khác là đào tạo một lớp người 11 mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống (Trần Khánh Đức, 2010). Ở nước ta, mục tiêu của GD phổ thông đã được qui định tại điều 27 – Luật GD 2005 như sau: “ Mục tiêu của GD phổ thông là giúp phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các KN cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (Luật giáo dục sửa đổi, 2005). Thuật ngữ KNS được người Việt Nam sử dụng bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) (Nguyễn Thanh Bình, 2009): “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”.
Giai đoạn đầu của chương trình, chương trình, khái niệm KNS được giới thiệu chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN kiên định và KN đạt mục tiêu. Ở giai đoạn này chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề GD sức khoẻ của thanh thiếu niên. Giai đoạn hai của chương trình mang tên: "Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS" trong đó nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS đã được phát triển sâu sắc hơn. Ngành Giáo dục đã triển khai chương trình đưa GDKNS vào hệ thống GD chính qui và không chính qui.
Nội dung GD của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu GDKNS. Các nội dung GDKNS cơ bản đã được triển khai ở các cấp THCS gồm năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử, năng lực tự học suốt đời; định hướng HS: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định.