Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm qua hoạt động trải nghiệm cho sinh viên trên thế giới và tại Việt Nam Để giúp sinh viên hình thành các kỹ năng mềm, đáp ứng được những yêu cầu doanh nghiệp và xã hội trong bối cảnh mới, công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong các trường đại học có ý nghĩa quan trọng. Nghiên cứu vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Trên thế giới Năm 1996, Jacques Delors đã đưa ra bốn trụ cột của giáo dục là học để biết, học để làm, học để chung sống và học để phát triển.
Jacques Delors nhấn mạnh giáo dục là tài sản tiềm ẩn và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cá nhân, xã hội và cả nhân loại [9]. Năm 1990, Bộ lao động Mỹ thành lập một Ủy ban Thư ký về rèn luyện các kỹ năng cần thiết giúp người trẻ thành công trong môi trường làm việc, có tên tiếng Anh là The Secretary’s Commission on Achieving Necessary Skills gọi tắt là SCANS. Mục đích của Ủy ban là khuyến khích một nền kinh tế có hiệu suất cao, kỹ năng cao, lương cao. Bộ lao động Mỹ cùng Hiệp hội đào tạo và phát triển Mỹ đã kết luận và đưa ra 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc: kỹ năng học và tự học, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình và nói trước công chúng, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp, kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập mối quan hệ, kỹ năng làm việc đồng đội, kỹ năng đàm phán, kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả và kỹ năng lãnh đạo bản thân [35].
Luan van Vào tháng 12 năm 2003, Bộ phát triển kỹ năng và nhân lực của Canada được thành lập để giúp cải thiện chất lượng sống và xây dựng Canada vững manh hơn. Bộ phát triển kỹ năng và nhân lực đưa ra 6 kỹ năng mềm cần thiết cho người lao động: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy và hành vi tích cực, kỹ năng thích ứng, kỹ năng làm việc với con người, kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán [45]. Cục Phát triển lao động Singapore đã đưa ra 10 kỹ năng mềm cần thiết: viết và tính toán, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, giải quyết vấn đề và ra quyết định, sáng tạo và mạo hiểm, giao tiếp và quản lý mối quan hệ, học tập suốt đời, tư duy mở toàn cầu, quản lý bản thân, tổ chức công việc và an toàn lao động, vệ sinh sức khỏe [35]. Ngoài ra, lý thuyết học tập trải nghiệm của John Dewey và David A.Kolb là một nghiên cứu có đóng góp quan trọng vào cơ sở lý luận giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng mềm cho người học.
Thuyết học tập qua trải nghiệm là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trải nghiệm, tiếp thu, nhận thức và hành vi, giúp người học chủ động trong việc chiếm lĩnh kiến thức nhờ học tập trải nghiệm, tư duy giáo dục đã được thay đổi từ quan điểm nhấn mạnh vai trò của người dạy sang lấy người học làm trung tâm [24]. Theo John Dewey, học tập trải nghiệm là giáo dục dựa vào kinh nghiệm thực tế của người học, việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để người học độc lập tìm tòi, nhà giáo dục là người tổ chức, cố vấn cùng người học tìm ra tri thức, phát huy tính tư duy sáng tạo [36]. John Dewey đã đưa ra quan điểm xây dựng môn học cho trẻ căn cứ vào các lợi ích tự nhiên và kinh nghiệm cá nhân của đứa trẻ, theo đó việc học tập chủ yếu của đứa trẻ cần phải được tiến hành sao cho giống như các hoạt động trò chơi và các hoạt động lao động. Vì vậy, John Dewey nhấn mạnh phương pháp giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm dựa vào thực hành [12].
Nghiên cứu về giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên kỹ thuật, Susan H.Pulko và Samir Parikh cho rằng vai trò của người giáo viên và các phương pháp dạy học 8 Luan van ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên. Tuy nhiên, giáo dục kỹ năng mềm chỉ thông qua dạy học các bài giảng truyền thống sẽ rất khó phát triển các kỹ năng mềm cho sinh viên.Pulko và Samir Parikh cũng đưa ra sáng kiến nhằm cải thiện việc dạy kỹ năng mềm cho sinh viên bằng cách kết hợp việc giảng dạy với các phương pháp dạy học mới. Các kỹ thuật Susan H.Pulko và Samir Parikh đề xuất gồm dạy học theo dự án, dạy học theo nhóm và các phương pháp dạy học tích cực khác, Susan H.Pulko và Samir Parikh cũng đã đưa ra sự thay đổi về kỹ năng mềm của sinh viên khi sử dụng các phương pháp dạy học mới [50]. Trong nghiên cứu về việc phát triển các kỹ năng xã hội và hợp tác thông qua các hoạt động chơi và học trong những năm đầu tiên, Pat Broadhead đã phát triển một công cụ quan sát độc đáo và phương tiện theo dõi sự phát triển tiến bộ của trẻ thông qua các kỹ năng.
Ngoài ra, Pat Broadhead cũng thừa nhận nhiều hạn chế đang tồn tại trong quá trình rèn luyện kỹ năng mềm của người học nhiều năm qua. Nghiên cứu đã giúp cho các giáo viên hiểu được mối quan hệ giữa phát triển trí thông minh với sự phát triển về ngôn ngữ. Pat Broadhead nhấn mạnh vai trò của các hoạt động chơi đối với sự hình thành các khả năng hợp tác và xã hội của trẻ trong những năm đầu đời bằng các thử nghiệm tại lớp học, để cho các đứa trẻ tự chơi với nhau và không có sự can thiệp của giáo viên, các đứa trẻ dường như có những tín hiệu riêng để kết nối với nhau mà không phải lúc nào cũng thể hiện ra bên ngoài. Nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra các trò chơi giúp trẻ có thể phát triển nhiều khả năng hơn so với việc dạy học truyền thống như trước đây [49].
Như vậy, trên thế giới khi nghiên cứu về công tác giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên, các tác giả đã xác định được các kỹ năng mềm cần giáo dục, sử dụng các phương pháp giáo dục và cách thức tổ chức hiệu quả để sinh viên dễ dàng nắm bắt được. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng các hoạt động trải nghiệm, các phương pháp dạy học tích cực được tổ chức có vai trò quan trọng để giúp người học hình thành các kỹ năng mềm cần thiết. Đó cũng chính là định hướng cho việc nghiên cứu giáo dục kỹ năng mềm qua tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên nội trú tại ký túc xá, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật tpHCM. Tại Việt Nam Tại Hội thảo khoa học đào tạo kỹ năng mềm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, do Trường Đại học Tài chính- Marketing và Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức ngày 26/10/2018, các chuyên gia đều cho rằng, trình độ học vấn và bằng cấp chưa đủ để doanh nghiệp và người sử dụng lao động quyết định trong việc tuyển dụng lao động.
Theo Nguyễn Thị Ánh Ngọc, những người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị [43]. Nghiên cứu về phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên trường Cao đẳng giao thông vận tải trung ương VI trong hội nhập quốc tế, Nguyễn Kim Cương (2018) đã đưa ra các biện pháp trang bị kỹ năng mềm cho sinh viên như tích hợp chuẩn đầu ra kĩ năng mềm vào chương trình đào tạo, nâng cao nhận thức của giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên về vai trò của kỹ năng mềm, đổi mới tổ chức thực hiện phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên, tăng cường các nguồn lực cho hoạt động phát triển kỹ năng mềm, thông qua thực tập tại doanh nghiệp. Những kỹ năng cần thiết cho sinh viên trường nghề gồm kỹ năng giao tiếp và ứng xử, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc, kỹ năng quản lý bản thân, kỹ năng học tập suốt đời, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, kỹ năng an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe. Các biện pháp giáo dục kỹ năng mềm được đề xuất là tích hợp chuẩn đầu ra kỹ năng mềm vào chương trình đào tạo cho sinh viên; nâng cao nhận thức của cán bộ , giảng viên, sinh viên về tầm quan trọng của kỹ năng mềm; đổi mới tổ chức thực hiện phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên; tăng cường các nguồn lực cho hoạt động phát triển kỹ năng mềm và phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên thông qua thực tập tại doanh nghiệp.
Tác giả nhấn mạnh, mỗi biện pháp có những ưu điểm nhất định, nhưng cần thực hiện đồng bộ để đem lại kết quả cao nhất [5]. Lê Hà Thu (2016) nghiên cứu về Quản lý giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội theo tiếp cận năng lực đã đưa ra thực trạng kỹ 10 Luan van năng mềm của sinh viên hiện nay và các biện pháp để giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên theo tiếp cận năng lực. Tác giả nghiên cứu sâu vào 3 kỹ năng mềm là kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng quản lý cảm xúc và kỹ năng giải quyết vấn đề. Kết quả khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên cho thấy có trên 70% cán bộ, giảng viên, sinh viên xác nhận chương trình giáo dục kỹ năng mềm tại trường là chưa phù hợp.
Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên được để xuất là thiết kế khung các kỹ năng mềm cốt lõi cho sinh viên; quản lý phát triển chương trình giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên theo hướng tiếp cận năng lực; tổ chức thường xuyên các khóa bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ cho giảng viên về giáo dục kỹ năng mềm theo hướng tiếp cận năng lực; tăng cường tổ chức các hoạt động kiểm tra đánh giá việc thực hiện các học phần, đổi mới hình thức kiểm tra- đánh giá; chú trọng quản lý kết quả đầu ra của chương trình giáo dục kỹ năng mềm [32].